Nhưng theo như một bản nghiên cứu, bởi Mel Goldstein, Giám Đốc chương trình nghiên cứu tại Tibet, thuộc Đại học Case Western Reserve University ở Cleveland, Ohio, thì chiến dịch thay đổi cuộc sống để hoà hợp với môi trường và gia đình lành mạnh là nguyên nhân chánh đưa đến ước muốn của những người dân tại Tibet Autonomous Region hay TAR (vùng tự trị Tây Tạng), muốn có một gia đình ít con. Những lý do này, không phải là "sự bắt buộc ngừa thai hoặc phá thai", là yếu tố quyết định cho gia đình lớn hay nhỏ.
Bản nghiên cứu, sẽ được công bố trong China Journal tại Úc vào tháng 1 năm 2002, "sẽ nêu lên sự nguy hiểm của việc dùng những bản báo cáo hoặc những bằng chứng không xác thực để mà dẫn giải những sự kiện có tính cách chính trị", Goldstein và những cộng sự viên của ông đã nói thế.
Quan điểm của Goldstein và các cộng sự viên của ông hoàn toàn trái ngược với những bản báo cáo của các nhà hoạt động nhân quyền và nhiều nhà hoạt động tại Tibet mà những dữ kiện họ thu thập từ những người tị nạn vượt biên trốn khỏi Trung Quốc hằng năm.
Chiến dịch kế hoạch hoá gia đình được phát động tại các miền quê từ năm 1984 nhưng mãi đến đầu thập niên1990 các viên chức chính quyền mới gia tăng mức độ tuyên truyền. Kết quả của sự gia tăng này đã đem đến những vi phạm nhân quyền trầm trọng, theo lời những nhà hoạt động.
"Những phụ nữ Tibetan thường bị khuyến dụ để phá thai hoặc cắt buồng trứng. Những phụ nữ này cũng bị đe doạ bởi chính quyền Nhân dân Trung Quốc là nếu họ không chịu phá thai hoặc cắt buồng trứng, chồng của họ sẽ bị bắt và bị cầm tù", Hội Luật Sư Quốc Tế Cho Tibet (International Committee for Tibet), có trụ sở đặt tại Berkeley, Ca. , đã tuyên bố như vậy trong một bản báo cáo gởi cho Liên Hiệp Quốc năm 1994. Hội này sau được đổi tên là Tibet Justice Centre.
Những lời tố cáo này đã trở nên điểm chính dưới cái nhìn của thế giới bên ngoài nhìn vào sự hiện diện của Trung Quốc tại Tibet. Vào tháng 9, những đại biểu của World Conference Against Racism được những người Tibetan trốn khỏi Tibet là đã có hơn 300 phụ nữ bị cắt buồng trứng hoặc bị ép buộc phải phá thai bởi những viên chức trong chính quyền.
Vào tháng 2 năm 2000, mạng lưới thông tin của Tibet đã báo cáo là chính sách hai con đã được ban hành tại quận Ngamring. Bản báo cáo này được hậu thuẫn bởi một bản báo cáo khác của chính phủ lưu vong của đức Đạt Lai Lạt Ma rằng đã có một chiến dịch giảm số con "từ hai xuống một cho những người làm việc tại thành phố và từ bốn xuống hai cho nông dân".
Nhưng nhóm Goldstein cho biết họ không tìm thấy một bằng cớ nào cho thấy sự giới hạn chỉ hai con tại Ngamring, hay ở bất cứ một nơi nào trong bốn năm nghiên cứu về chính sách cải tổ của Trung Quốc áp đặt lên Tibet.
Mặc dầu luật lệ để ngăn ngừa con đông đang được gia tăng áp đặt tại những vùng thôn quê của Tibet, phần lớn những luật này không được áp dụng hoặc tiền phạt quá ít không thể được gọi là sự ép buộc, Goldstein nói vậy. Bản nghiên cứu của nhóm Goldstein không tìm thấy bất cứ một sự bắt buộc ngừa thai hoặc phá thai cả. "Nếu có, những dữ kiện trong bản báo cáo của tôi cho thấy đó chỉ là những trường hợp ngoại lệ", Goldstein nói, "Đây không phải là một chính sách".
Goldstein cho biết là những người được phỏng vấn trong bản báo cáo của ông là người Tibetan chính gốc và họ không bị các viên chức Trung Quốc kèm sát.
Theo bản báo cáo, vấn đề này chẳng xảy ra tại miền thôn quê ở Tibet. "Không có một văn kiện chính thức của chính phủ hoặc một cuộc nói chuyện nào không chính thức với dân làng ở Tibet về vấn đề ngừa thai, cắt buồng trứng hoặc buộc phải phá thai cả, mặc dầu có rất nhiều than phiền về những vấn đề khác của đời sống nơi thôn quê và những luật lệ do chính phủ đặt ra", bản báo cáo cho biết.
Tại sao lại có sự khác biệt giữa bản báo cáo và lời của những nhà hoạt động nhân quyền" Một lý do có thể là vì họ nghiên cứu ở khác địa phương. Bản nghiên cứu của Goldstein tập trung vào các miền thôn quê của TAR. "Nhưng sự đàn áp của chính phủ thường xảy ra tại thành phố, nơi mà có đông dân Trung Hoa và những viên chức chính quyền áp đặt luật lệ trong việc kế hoạch hoá gia đình", John Ackerly, thuộc International Campaign for Tibet, một tổ chức có trụ sở đặt tại Washington.
Một trong những sự kiện tồi tệ nhất đã xảy ra tại những đô thị đông dân Tibetan ngoài vùng TAR. Những vụ ép buộc phá thai dã man hoặc buộc cắt buồng trứng đã xảy ra tại tỉnh Qinghai, nhất là tại các quận mà dân thiểu số là Tibetan, theo lời của Ackerly, ông cũng đồng ý là sự đàn áp không phải là một phần của một kế hoạch tinh vi.
Tuy nhiên, những người Việt Nam vẫn nghi ngờ các bản nghiên cứu hay thăm dò thực hiện tại các nước cộng sản như Trung Quốc hay Việt Nam; cụ thể mới đây một bản thăm dò của UCI cũng nói là "91% dân Việt Nam hài lòng với nhà nước CSVN," điều không ai tin được.



