Hôm nay,  

Quyền Hành Tuyệt Đối, Hư Hỏng Tuyệt Đối

11/13/200600:00:00(View: 8325)

Quyền Hành Tuyệt Đối, Hư Hỏng Tuyệt Đối

Người Pháp có câu: “Pouvoir pourrit.” (quyền hành đưa đến thối nát), và người Anglo Saxon nói “Absolute power, absolute corruption” (quyền hành tuyệt đối đưa tới tham nhũng tuyệt đối). Đó là một hiện tượng phản ánh bản chất của con người. Nói cách khác không có người thánh thiện hay một chế độ thánh thiện có thể ra khỏi cái quy luật đó. Áp dụng vào chính trị hiện tượng xã hội đó là nguyên nhân của một xã hội hư hỏng và thối nát nếu một cá nhân hay một đảng cầm quyền quá lâu.

Vì vậy mà ý niệm dân chủ ra đời với quan niệm căn bản là  người cầm quyền phải qua sự đồng thuận của đa số nhân dân qua các cuộc bầu cử có hạn kỳ để tránh sự cầm quyền quá lâu của một cá nhân hay của một đảng chính trị. Và cẩn thận hơn các quốc gia dân chủ đều được vận hành trên căn bản pháp trị dựa vào một bản hiến pháp làm luật lệ tối thượng, trong đó nguyên tắc chính yếu là sự phân quyền: quyền làm luật (dưới bản hiến pháp) dành cho Quốc hội; quyền thi hành luật, còn gọi là quyền cai trị dành cho Nhà nước (hiểu một cách đơn giản là Chính phủ); và quyền xử án (đơn giản là quyền Tư pháp) nếu có sự vi phạm luật pháp. Phân quyền như vậy để các quyền làm luật, quyền cai trị và quyền phân xử độc lập với nhau, kiểm soát lẫn nhau tránh việc tập trung quyền hành. Bên trên cái hệ thống tự kiểm soát đó là sự tự do phát biểu ý kiến của người dân, đơn giản hơn là quyền tự do ngôn luận qua các phương tiện truyền thông.

Âu châu có truyền thống dân chủ, và nước Anh đã gần như độc quyền truyền bá cái truyền thống dân chủ đó qua sự chinh phục các thuộc địa Úc châu, Canada và Mỹ quốc. Cho nên sau khi được độc lập các quốc gia này là những trung tâm dân chủ bền vững. Đặc biệt là Hoa Kỳ, sự vùng lên chống ách cai trị của người Anh để giành quyền độc lập một cách gian khổ trong thế kỷ thứ 18 đã dạy cho họ rằng ý thức dân chủ và tự do ngôn luận là vũ khí để chống lại quyền hành tuyệt đối.

Nhưng lịch sử của quốc gia có nền dân chủ hoàn mỹ nhất trên trái đất là Hoa Kỳ cũng không khỏi trải qua những giai đoạn mà quyền hành tuyệt đối đã đưa quốc gia đến bờ vực thẳm. Trong suốt 12 năm kể từ năm 1994 đảng Cộng hòa nắm quốc hội (ngoại trừ một thời gian ngắn từ giữa năm 2001 đến cuối năm 2002 đảng Dân chủ nắm đa số tại Thượng viện do sự đổi đảng - từ Cộng hòa sang Dân chủ - của một Thượng nghị sĩ), và từ năm 2004 sau khi tổng thống George W. Bush đắc cử nhiệm kỳ 2, quyền hành tuyệt đối nằm trong tay đảng Cộng hòa.

Cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã tạo điều kiện cho tổng thống Bush trở thành một vị tổng thống có một sứ mệnh là chống khủng bố để bảo vệ nhân dân Hoa Kỳ. Sự đắc cử trước đó chưa đầy một năm của ông qua sự vật lộn với luật lệ để cuối cùng được chọn làm tổng thống qua một phán quyết của Tối cao Pháp viện (không cho bang Florida tiếp tục đếm phiếu) làm cho ông là một tổng thống chưa có sự mệnh của dân giao phó. Nhưng sau cuộc khủng bố đã có hơn 80% dân chúng hậu thuẫn sau lưng như một chiếu chỉ trao quyền “tiền trãm hậu tấu” cho tổng thống Bush.

Không ai nghi ngờ tổng thống Bush với sự ủng hộ của hai viện quốc hội và giới truyền thông sẽ đánh Afghanistan để diệt trừ nhóm al Qaeda tận gốc nếu chính quyền Taliban của Afghanistan không chịu giao nạp Osama bin Laden, lãnh tụ al Qaeda và là người cầm đầu vụ khủng bố 911. Một quyết nghị của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc chính thức cho phép Hoa Kỳ đánh Afghanistan như một hành động tự vệ. Nhưng trong khi chuẩn bị hành quân đánh Afghanistan, tổng thống Bush và các phụ tá cực hữu của ông (thường được gọi là “nhóm neoconservatives”) đã chuẩn bị kế hoạch đánh Iraq để lật đổ Saddam Hussein.

Việc đầu tiên là biện minh trước thế giới Saddam Hussein có vũ khí giết người tập thể. Nhưng đứng trước thực tế các đoàn thanh tra Liên Hiệp quốc không tìm được bằng cớ gì xác thực để chứng minh điều này nhóm cực hữu do Phó tổng thống Dick Cheney cầm đầu đã không ngần ngại tung hỏa mù (với sự hợp tác mặc nhiên của cơ quan tình báo CIA) như tung tin Saddam Hussein có chương trình mua quặng uranium của Nigeria, Saddam Hussein tiếp tục chế tạo vũ khí hóa học (vì Saddam đã dùng một lần năm 1991 giết những người Kurds nổi dậy chống ông ta).

Và sau cùng khi thời điểm tốt nhất cho cuộc hành quân đánh Iraq là tháng 3 (2003) tới mà Hoa Kỳ vẫn chưa thuyết phục phục được Hội đồng Bảo an Liên  hiệp quốc thông qua một quyết nghị cho phép đánh Iraq, Hoa Kỳ vẫn tiến đánh Iraq với lập luận “nếu liên quan đến an ninh của Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ không cần chờ đợi sự chấp thuận của cộng đồng quốc tế”. Chính phủ Bush tin tưởng rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ được dân chúng Iraq mang hoa ra tiếp đón, và sau khi Saddam Hussein bị lật đổ một chế độ dân chủ sẽ nở rộ từ thành phố Baghdad tỏa ra khắp vùng Trung đông như một làn gió mát thổi qua vùng đất chưa bao giờ biết thế nào là dân chủ. Lúc đó mọi sự sẽ an bài và thế giới sẽ vỗ tay tán thưởng.

Sự chủ quan của nước lớn và của những nhà lãnh đạo dân sự từ tổng thống Bush đến phó tổng thống Cheney, bộ trưởng quốc phòng Rumsfeld, đại sứ Bremer thiếu kinh nghiệm chính trị đã đưa đến những quyết định sai lầm không thể hiểu được như giải tán toàn bộ quân đội Iraq của Saddam Hussein (trong khi chỉ cần thải hồi một số tướng lãnh cấp cao), giải nhiệm tất cả đảng viên đảng Bath là đảng cầm quyền của Saddam Hussein ra khỏi tất cả các chức vụ hành chánh (trong khi chỉ cần giải nhiệm vài lớp ở bên trên và duy trì các viên chức cấp điều hành ở dưới).

Với chủ thuyết mới của Rumsfeld là quân đội phải “nhẹ và nhanh” (chưa bao giờ được thử nghiệm) Rumsfeld không chịu đưa đủ quân vào Iraq như khuyến cáo của các tướng lãnh để ổn định và nhất là để kiểm soát tất cả các kho vũ khí của Saddam Hussein trên toàn quốc. Đảng viên đảng Bath thất nghiệp và hàng trăm ngàn lính Iraq rã ngũ không tiền nuôi vợ con đã trở thành quân phiến loạn chống lại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ với những kho vũ khí Hoa Kỳ chưa kịp kiểm soát.

Quyền hành tuyết đối trong tay nhóm cực hữu đưa đến những sai lầm chủ quan tuyết đối trên chiến trường Iraq làm cho chỉ trong một thời gian ba năm Iraq tiến tới tình trạng nội chiến làm chết hơn nửa triệu sinh mạng người Iraq chưa kể hơn 2.800 binh sĩ Hoa Kỳ tử trận mà nền dân chủ chờ đợi tại Iraq chỉ là một ảo ảnh ngoài tầm tay.

Trong khi đó quyền hành tuyệt đối cũng đưa đến những chính sách nội bộ quá khích và sai lầm. Quốc hội coi thường dân chúng, phe phái bao che, không chu toàn nhiệm vụ kiểm soát hành pháp và làm việc một cách lấy lệ miễn sao có thể bảo đảm chiếc ghế mỗi lần bầu cử tới. Năm 2006, quốc hội họp 60 ngày (trong khi ngày làm việc trung bình một năm cho mọi công dân Mỹ là 250 ngày).

Bất cứ dự luật nào của đảng Cộng hòa cũng được thông qua bất chấp phiếu thuận hay chống của đảng Dân chủ, nên các dân biểu và Thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa lợi dụng chua thêm vào bộ luật những chương trình nhỏ cho địa phương (một thủ tục làm luật có mục đích giảm thì giờ thảo luận những nhu cầu đương nhiên gọi là “earmark” đã bị các dân biểu và nghị sĩ lợi dụng đưa vào những chuơng trình không có gì gọi là đương nhiên để đổi lấy những quyền lợi từ giới lobbyists). Một trong những sự lợi dụng này đã bị báo chí phanh phui khi một dân biểu của bang Alaska đã  “earmark” 223 triệu mỹ kim để làm một chiếc cầu nối liền thành phố Ketchikan của bang Alaska với một hòn đảo gồm 50 cư dân!

Không có sự kềm chế của quốc hội tổng thống Bush giải quyết công việc quốc gia theo cảm tính. Mua chuộc cử tri cao niên ông làm luật trả tiền thuốc (gọi là Medical Part D) cho 40 triệu cử tri cao niên kể từ năm 2006 tiêu tốn ngân sách mỗi năm 120 tỉ mỹ kim. Những chi phí mua chuộc cử tri và giảm thuế (chính yếu cho thành phần giàu có trong xã hội), cộng với chi phí chiến tranh phi mã tại Iraq ngân sách thặng dư 236 tỉ mỹ kim lúc tổng thống Bush bước vào Bạch cung đã biến thành thâm thủng trên 200 tỉ mỹ kim sau sáu năm tổng thống Bush cầm quyền.

Sau cùng (ngày 7/11/2006) dân đã lên tiếng. Đảng Dân chủ chiếm đa số tại quốc hội và đáng ngạc nhiên là nắm đa số tại Thượng nghị viện. Chỉ một ngày sau đó tổng thống Bush cho biết ông đã chấp thuận để bộ trưởng Donald Rumsfeld từ chức và bổ nhiệm Robert Gates, một cựu giám đốc CIA thay thế. Ông đã gặp các lãnh tụ của đảng Dân chủ là bà Nancy Pelosi, và Thượng nghị sĩ Harry Reid, hai người sẽ lãnh đạo Hạ viện và Thượng viện và tỏ ý hợp tác để giải quyết bế tắc của quốc gia.

Đảng Dân chủ sẽ hành xử như thế nào" Ưu tiên là cuộc chiến Iraq. Người ta hy vọng rằng đảng Dân chủ sẽ không đưa ra kế hoạch rút lui tức khắc, mà sẽ hợp tác với tổng thống Bush thiết lập một kế hoạch rút lui từ từ sao cho cuộc nội chiến sẽ không xẩy ra, hoặc có xẩy ra cũng trong mức độ chấp nhận được trước khi một phe phái của người Iraq có thể kiểm soát tình hình, và thế nào để không ảnh hưởng đến uy tín của Hoa Kỳ trên toàn thế giới mặc dù chiến lược gieo rắc dân chủ là chính sách cột trụ tạo hòa bình và giảm căng thẳng trên thế giới của tổng thống Bush đã chứng tỏ không hữu hiệu. Hòa bình thế giới cần được xây đắp trên một căn bản thực tế và công bình hơn chứ không thể bằng chính sách “thay thế lãnh đạo” (regime change) với sức mạnh quân sự.

Giải pháp chia ba Iraq cũng là một giải pháp khả dĩ nếu giải pháp này giúp tránh được nội chiến. Nếu vì khác biệt chủng tộc và tôn giáo không sống được với nhau thì tách ra cũng là một điều tự nhiên. Sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ Nam Tư, Tiệp Khắc đã được chia ra nhiều nước và nhờ đó đã có hòa bình sau một thời gian đánh giết lẫn nhau (Nam Tư) và căng thẳng (Tiệp Khắc). Quốc tế thường không thích chính sách chia cắt, nhưng chia cắt một nước ra thành nhiều nước nhỏ tự nó không làm cho thế giới bất ổn. Những nước nhỏ như Singapore, Hồng Kông đã là những trung tâm kinh tế quan trọng và đóng góp không nhỏ vào sự phồn thịnh của thế giới.

Đảng Dân chủ cần chứng tỏ sự quan tâm đối với các phong trào đòi dân chủ trên thế giới (như truyền thống của đảng Dân chủ), nhất là tại các nước đang phát triển hoặc các nước còn ở dưới những chế độ độc đảng, và làm cho tiếng nói ủng hộ dân chủ của Hoa Kỳ có thực chất hơn. Và trên hết đảng Dân chủ cần một chính sách chống khủng bố làm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ đồng thời làm yên lòng thế giới. Chính sách của tổng thống Bush “đánh khủng bố ngoài nước Mỹ” để bảo toàn an ninh cho nước Mỹ có thể sẽ không còn hữu hiệu. Nước Mỹ có thể cần dùng chính sách “ăn miếng trả miếng”: một cuộc tấn công nào vào quyền lợi của Hoa Kỳ và giết người Mỹ một cách tập thể sẽ được trả đũa bằng tất cả sức mạnh của Hoa Kỳ. Từ bỏ quan niệm Hoa Kỳ là bất khả xâm phạm có thể làm cho Hoa Kỳ có an ninh hơn.

Nội bộ, đảng Dân chủ sẽ dùng quyền điều tra để kiểm soát hay điều chỉnh các chính sách hiện hành của chính phủ và trên hết là đảng Dân chủ cần tự chế để không dùng quyền đa số cả hai viện quốc hội để đặt vần đề “truất quyền” tổng thống Bush.

Phong cách làm việc giữa hai đảng Cộng hòa (nắm Hành pháp), và đảng Dân chủ (năm Quốc Hội) sẽ tạo tư thế của hai đảng đối với cuộc bầu cử tổng thống cuối năm 2008. Nếu đảng Dân chủ giúp giải quyết được những bế tắc trước mắt như dân chúng chờ đợi và bày tỏ qua cuộc bầu cử ngày 7/11/2006 vừa qua đảng Dân chủ có nhiều thế để thắng. Trái lại nếu đảng Dân chủ không đưa ra được một giải pháp gì mà chỉ biết lo vun đắp quyền lực phe phái thì thế mạnh của đảng Dân chủ sẽ mất. Đây sẽ là cơ hội tốt cho thượng nghị sĩ John McCain.

Biến chuyển chính trị tại Hoa Kỳ trong 12 năm qua là một bài học chung cho những nhà lãnh đạo trên thế giới, nhất là các nước còn trong chế độ độc tài.

Trong 12 năm cầm quyền tuyệt đối đảng Cộng hòa đã tạo ra một ông tổng thống quá khích tuyệt đối và một quốc hội tham nhũng tuyệt đối làm cho dân tình ly tán, và làm cho một siêu cường có khả năng kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới lại có ít uy tín nhất trên thế giới. Sự việc đó đã xẩy ra trong một quốc gia có truyền thống dân chủ, có những cơ chế để bảo đảm dân chủ, và có quyền tự do ngôn luận là điều đáng suy nghĩ.

Những người lãnh đạo tại Việt Nam cần làm một sự so sánh để thấy 12 năm quyền hành tuyệt đối đã tạo ra những gì cho Hoa Kỳ để suy diễn những gì nhân dân Việt nam đang phải gánh chịu với quyền hành tuyệt đối của đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 31 năm qua nếu chỉ kể từ năm 1975. Một đất nước chỉ có cái mã bề ngoài, nhưng bên trong mục nát từ văn hóa, xã hội, giáo dục y tế và đạo lý con người. Tệ hại nhất là nhân danh một quốc gia tham gia phong trào chống khủng bố trên thế giới lại dùng những phương pháp khủng bố (lột truồng nhà tu để làm nhục, dọa bỏ bạch phiến để có cớ bỏ tù, gây tai nạn lưu thông, dùng du đảng hành hung … ) đối với những người đấu tranh cho dân chủ trong nước.

Người cộng sản Việt Nam hay nói tới trí tuệ và tình yêu nước nhiệt thành. Thì hãy vận dụng trí tuệ để nhận ra con đường phải theo và dùng tình yêu nước thúc bách để hành động. Một cuộc trưng cầu dân ý mỗi người một phiếu để hỏi 60 triệu người dân (trên 18 tuổi) có chịu chấp nhận điều 4 Hiến pháp trao quyền tuyệt đối cho 3 triệu đảng viên đảng cộng sản không là một bước khởi đầu tốt.

Nov. 12, 2006

[email protected]

www.tranbinhnam.com

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.