Hôm nay,  

Giải Nobel: Giải Sầu

10/10/200900:00:00(Xem: 9656)

Giải Nobel: Giải Sầu

Nguyễn Xuân Nghĩa

Những Phiền Muộn Sau Giải Nobel...
Tổng thống Barack Obama được trao giải Nobel Hoà bình năm 2009. Tin đó loan ra đêm Thứ Năm (giờ Hoa Kỳ) làm nhiều người kinh ngạc, vì ông đã làm những gì" Ông Obama mới nhậm chức tổng thống có 11 ngày trước khi ủy ban sơ tuyển lọc ra 205 nhân vật hay tổ chức có thể để cử cho giải thưởng, một thời gian quá ngắn để thẩm định thành tích đấu tranh cho hoà bình của một người, dù là Tổng thống Hoa Kỳ, hay tổng thống đầu tiên gốc đa đen của nước Mỹ.
Nhưng, Ủy ban Na Uy có lý do của họ, vì những hứa hẹn hoà bình ông Obama có thể đem lại sau này... Một giải tuyên dương những thành tích vị lai, chưa tới.
Thật ra, với tiêu chuẩn kỳ lạ của Ủy ban Nobel, ông Barack Obama đã có thể trúng giải Nobel Văn chương vì có hai cuốn hồi ký bán chạy. Ông cũng có thể phải trúng giải Nobel về Y khoa vì những hứa hẹn cải tổ chế độ y tế Mỹ, nhờ đó có thể giúp cho vài chục triệu người sau này sẽ có bảo hiểm sức khỏe. Cả hai giải Hoá học và Vật lý cũng vậy, đáng vào tay ông vì kế hoạch phát triển năng lượng xanh và kiểm soát khí thải hầu ngăn chặn hiện tượng nhiệt hoá địa cầu, dù nhiều nhà khoa học vẫn chưa tin vào hiện tượng đó. Tương lai sẽ thấy là ông Obama có lý, trong ngàn năm nữa, may ra.
Thật ra, ông Obama còn xứng đáng được cả giải Nobel Kinh tế vì đưa ra một kế hoạch kích thích kinh tế trị giá kỷ lục là 787 tỷ Mỹ kim, nhồi theo những khoản tăng chi vô địch giữa một trận suy thoái kinh tế nặng nhất từ mấy chục năm nay. Sự sáng tạo của ông trong lãnh vực kinh tế đáng được ghi vào bộ môn kinh tế sử cho hậu thế!
Khi trao giải, mục tiêu chính của Ủy ban Nobel là nhấn mạnh đến việc ông Obama vận động các nước cùng tự nguyện giải trừ võ khí nguyên tử. Một thế giới không còn võ khí tàn sát tuyệt đối ấy tất nhiên là sẽ dễ thở hơn. Nhưng thật ra khó sống hơn vì chiến tranh càng dễ xảy ra, với nhiều phương tiện tàn sát khác. Vả lại, chuyện tự nguyện là thiện chí của từng nước, trong khi nhiều quốc gia vẫn coi thường lời yêu cầu này mà xúc tiến kế hoạch nguyên tử của họ, Bắc Hàn Cộng sản và Ba Tư Hồi giáo là hai trường hợp cực nóng hiện nay. Giải Nobel cho Obama sẽ làm lãnh đạo mấy xứ này cười muốn bay rốn.
Tháng trước, khi Tổng thống Mỹ kêu gọi giải trừ võ khí nguyên tử, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy không nhịn được mà buông ra lời mỉa mai về một lãnh tụ non yếu, ngây thơ và khờ khạo. Bây giờ, ông Sarkozy phải nghĩ đến hài kịch Nobel... và đành phải có vài lời chúc mừng rất nhạt.
Sau khi bước ra tuyên bố mấy câu khiêm nhường và dăm điều ước nguyện, ông Obama loan báo sẽ đi nhận giải và nhờ đó vận động tiếp cho hoà bình thế giới. Sau đó ông vào chủ tọa một hội nghị về chiến tranh tại A Phú Hãn! Ủy ban Nobel không thiếu tinh thần hài hước.
Từ năm 2005, đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ đã tìm mọi cách đả kích Chính quyền George W. Bush về cuộc chiến tại Iraq - mà đa số của họ trong Quốc hội đã bỏ phiếu ủng hộ và cho phép vào năm 2003. Lý do là năm sau, 2006, có cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và đảng này thấy dư luận Mỹ đã xoay chiều về chuyện Iraq. Nhưng, vì sợ bị mang tiếng phản chiến và tháo chạy sau vụ Việt Nam, họ bèn lách từ chuyện Iraq qua A Phú Hãn: chiến trường Iraq là sai, đáng triệt thoái, chiến trường A Phú Hãn mới là phải đạo.
Nghĩa là cũng đầy dũng cảm trong thời chiến. Một sự dũng cảm của các chính khách.
Nghị sĩ Barack Obama cũng tranh cử trên chiến lược chính trị kiểu đó: đả kích hồ sơ Iraq là một thất bại lớn và đề cao giải pháp quyết liệt cho A Phú Hãn, là điều ông sẽ thực hiện nếu đắc cử. Quần chúng Mỹ tin tưởng - y như Ủy ban Nobel ngày nay - và dồn phiếu cho ông.
Nói là làm, nhậm chức ngày 20 tháng Giêng, Tổng thống Barack Obama quy tụ dàn cố vấn để tham khảo, nghiên cứu tận trước khi dõng dạc tuyên bố một "chiến lược mới" tại A Phú Hãn vào ngày 27 tháng Ba. Hôm đó, đứng giữa Ngoại trưởng Hillary Clinton và Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates, ông Obama tuyên bố là sau khi cân nhắc kỹ lưỡng với mọi cấp quân chính, các đồng minh và lãnh tụ Quốc hội, ông áp dụng một chiến lược mới cho cả A Phú Hãn và Pakistan. Ông nhấn mạnh tới chiến dịch chống nổi dậy, có sự phối hợp quân sự với dân sự để tiêu diệt lực lượng Taliban tại A Phú Hãn.
Sau đó, ông cách chức viên Tư lệnh chiến trường và bổ nhiệm Đại tướng Stanley McChrystal vào trọng trách đó vì McChrystal có dầy kinh nghiệm về hình thái chiến tranh chống khủng bố và đã lập thành tích rất lớn trên chiến trường Iraq. Rồi Obama đi lo chuyện khác.


Sau khi nhận sự vụ lệnh bước ra chiến trường vào tháng Năm và trong nhiều tháng liền, Tướng McChrystal chỉ được gặp vị Tư lệnh tối cao Obama chỉ có một lần. Ông nghiên cứu tình hình tại chỗ, tham khảo ý kiến ba quân và hai thượng cấp trực tiếp là Đại tướng David Petreaus và Đô đốc Michael Mullen để trình lên một báo cáo và nhiều đề nghị. Trên đại thể là cần xác định lại mục tiêu chiến lược, chống khủng hay chống nổi dậy (counter terrorism hay counter insurgency) và phương tiện được giao phó, ít ra phải có thêm từ bốn đến sáu vạn quân... Tướng Petreaus từng là Tư lệnh chiến trường Iraq và áp dụng thành công những kinh nghiệm ông học hỏi từ chiến tranh Việt Nam. Nay ông đang là Tư lệnh Quân khu Trung ương CENTCOM bao trùm lên 27 quốc gia và cả hai chiến trường Iraq và A Phú Hãn. Đô đốc Mullen là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, tức là Tổng tư lệnh Quân lực Mỹ.
Tướng McChrystal đệ nạp bản tường trình từ cuối tháng Tám mà không có hồi âm và chẳng được chỉ thị gì. Trong khi đó, từ phủ Tổng thống đã có những tiết lộ về một chiến lược mới nhằm giảm bớt quân số và tận dụng lực lượng đặc biệt cùng các phương tiện hiện đại như máy bay tự động loại Predator để diệt trừ khủng bố. Phó Tổng thống Joe Biden có thể là... tác giả của chiến lược đó vì cảm thấy áp lực rất mạnh của cánh tả và phe phản chiến trong đảng Dân Chủ.
Lồng bên dưới câu chuyện này là sự do dự giữa hai mục tiêu tại A Phú Hãn: truy lùng khủng bố al-Qaeda hay lực lượng phiến loạn Taliban"
Đầu não al-Qaeda thì nay đã chạy qua Pakistan, tấn công họ ở đó là vấn đề nan giải, nhất là về ngoại giao và chính trị, với xứ láng giềng này. Thượng viện Mỹ vừa ra đạo luật Kerry-Lugar nhằm viện trợ cho Pakistan với điều kiện xứ này phải... thực thi dân chủ và quân đội phải phục tòng một chính quyền dân sự rất nhu nhược yếu ớt. Quân đội Pakistan - xương sống về an ninh cho xứ này - mà bị ép thì nhiều tướng lãnh sẽ... kín đáo ủng hộ các nhóm Hồi giáo cực đoan, là chuyện đã từng xảy ra trong tổ chức tình báo ISI của họ.
Lực lượng Taliban thì vẫn có nhiều hậu cứ và sống trà trộn trong dân tại A Phú Hãn, muốn giải trừ thì phải tăng quân để bảo vệ và tranh thủ lòng dân A Phú Hãn hầu có được thông tin về tình báo. Và phải có đủ quân số để chặn đứng và diệt sạch các đợt tấn công kiểu du kích chiến của Taliban. Khi lãnh đạo Hoa Kỳ tại thủ đô lại bối rối và nhập nhằng về hai mục tiêu, các đơn vị ngoài chiến tuyến không biết là phải ứng xử ra sao thì đúng chiến lược... và hợp pháp" Lạng  quạng thì có khi bị truy tố về tội nặng tay tra tấn quân khủng bố!
Trong lúc ấy, Barack Obama vẫn chưa thể quyết định được gì. Vì vậy, phúc trình của Tướng McChrystal mới bị tiết lộ cho báo chí - qua ký giả lừng danh Bob Woodward của tờ Washington Post - để đạt tối đa hiệu qua. Và... cả nước bèn tranh luận về chiến lược A Phú Hãn.
Trên đại thể, ba viên tướng cao cấp nhất (Đô đốc Mullen, hai Đại tướng Petreaus và McChrystal) thì chủ trương phải xác định mục tiêu chiến lược và dù mục tiêu là gì đi nữa thì cũng phải đôn thêm quân thay vì chỉ có gần bảy vạn quân như hiện nay. Nếu không thì sẽ thất bại. Chung quanh Tổng thống thì Tổng trưởng Quốc phòng Gates và Cố vấn An ninh Quốc gia James Jones cho là nên nghiên cứu thận trọng hơn, và theo lời ông Jones (một Đại tướng hồi hưu) thì tình hình tại chỗ dù sao cũng chưa đến nỗi tệ như vậy! Phó Tổng thống Biden, một chính khách kỳ cựu, thì cho rằng tình hình ở hậu phương mới tệ nên mới nhá ý kiến là nên giảm chứ không nên tăng quân!
Trên nguyên tắc, các tướng lãnh thì chỉ biết chuyện quân chính ở tại chỗ, trên bàn cờ từ Trung Đông qua Trung Á, chứ các chính khách ở nhà thì nhìn bàn cờ rộng lớn hơn, bao trùm lên toàn cầu, gồm Liên bang Nga, Trung Quốc, Iran và cả thủ đô Mỹ, với các cuộc khảo sát dân ý được thường xuyên công bố. Và theo hiến pháp Mỹ, thành phần này mới có thẩm quyền quyết định tối hậu.
Làm cho Tổng thống Obama tối tăm mặt mày. Ông đã từng hùng dũng tuyên bố, gần nhất là hôm 17 vừa qua, rằng chiến trường A Phú Hãn mới là cuộc chiến cần thiết - "a war of necessity". Bây giờ sẽ tính làm sao về một chiến lược cần thiết cho một chiến trường cần thiết"
Đảng Dân Chủ tưởng rằng đả kích chiến trường Iraq và đề cao chiến trường A Phú Hãn là trò bắt cá hai tay đầy khôn ngoan vì vừa hốt phiếu phản chiến vừa chứng tỏ sự dũng cảm của mình. Bây giờ, họ phải trả giá cho sự dũng cảm ấy ngay tại chiến trường A Phú Hãn. Đúng lúc đó, Obama lại lãnh giải Nobel Hoà bình. Chính giải thưởng ấy lại càng bó tay kẻ trúng giải khi phải quyết định về chuyện chiến hoà hay tháo chạy khỏi A Phú Hãn! Vì vậy mới gọi là Giải sầu và nhiều người dân A Phú Hãn có thể chết oan vì giải này chi phối quyết định của một tổng thống tay mơ.
Ủy ban Nobel xứng đáng lãnh giải lạc quan nhất trong năm. Trong nhiều năm. Chúng ta phải nể sợ tinh thần lạc quan của những người chấm giải. Nhưng không nên quên bi hài kịch Nobel cho Kissinger và Lê Đức Thọ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.