Hôm nay,  

Giải Nobel: Giải Sầu

10/10/200900:00:00(Xem: 9656)

Giải Nobel: Giải Sầu

Nguyễn Xuân Nghĩa

Những Phiền Muộn Sau Giải Nobel...
Tổng thống Barack Obama được trao giải Nobel Hoà bình năm 2009. Tin đó loan ra đêm Thứ Năm (giờ Hoa Kỳ) làm nhiều người kinh ngạc, vì ông đã làm những gì" Ông Obama mới nhậm chức tổng thống có 11 ngày trước khi ủy ban sơ tuyển lọc ra 205 nhân vật hay tổ chức có thể để cử cho giải thưởng, một thời gian quá ngắn để thẩm định thành tích đấu tranh cho hoà bình của một người, dù là Tổng thống Hoa Kỳ, hay tổng thống đầu tiên gốc đa đen của nước Mỹ.
Nhưng, Ủy ban Na Uy có lý do của họ, vì những hứa hẹn hoà bình ông Obama có thể đem lại sau này... Một giải tuyên dương những thành tích vị lai, chưa tới.
Thật ra, với tiêu chuẩn kỳ lạ của Ủy ban Nobel, ông Barack Obama đã có thể trúng giải Nobel Văn chương vì có hai cuốn hồi ký bán chạy. Ông cũng có thể phải trúng giải Nobel về Y khoa vì những hứa hẹn cải tổ chế độ y tế Mỹ, nhờ đó có thể giúp cho vài chục triệu người sau này sẽ có bảo hiểm sức khỏe. Cả hai giải Hoá học và Vật lý cũng vậy, đáng vào tay ông vì kế hoạch phát triển năng lượng xanh và kiểm soát khí thải hầu ngăn chặn hiện tượng nhiệt hoá địa cầu, dù nhiều nhà khoa học vẫn chưa tin vào hiện tượng đó. Tương lai sẽ thấy là ông Obama có lý, trong ngàn năm nữa, may ra.
Thật ra, ông Obama còn xứng đáng được cả giải Nobel Kinh tế vì đưa ra một kế hoạch kích thích kinh tế trị giá kỷ lục là 787 tỷ Mỹ kim, nhồi theo những khoản tăng chi vô địch giữa một trận suy thoái kinh tế nặng nhất từ mấy chục năm nay. Sự sáng tạo của ông trong lãnh vực kinh tế đáng được ghi vào bộ môn kinh tế sử cho hậu thế!
Khi trao giải, mục tiêu chính của Ủy ban Nobel là nhấn mạnh đến việc ông Obama vận động các nước cùng tự nguyện giải trừ võ khí nguyên tử. Một thế giới không còn võ khí tàn sát tuyệt đối ấy tất nhiên là sẽ dễ thở hơn. Nhưng thật ra khó sống hơn vì chiến tranh càng dễ xảy ra, với nhiều phương tiện tàn sát khác. Vả lại, chuyện tự nguyện là thiện chí của từng nước, trong khi nhiều quốc gia vẫn coi thường lời yêu cầu này mà xúc tiến kế hoạch nguyên tử của họ, Bắc Hàn Cộng sản và Ba Tư Hồi giáo là hai trường hợp cực nóng hiện nay. Giải Nobel cho Obama sẽ làm lãnh đạo mấy xứ này cười muốn bay rốn.
Tháng trước, khi Tổng thống Mỹ kêu gọi giải trừ võ khí nguyên tử, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy không nhịn được mà buông ra lời mỉa mai về một lãnh tụ non yếu, ngây thơ và khờ khạo. Bây giờ, ông Sarkozy phải nghĩ đến hài kịch Nobel... và đành phải có vài lời chúc mừng rất nhạt.
Sau khi bước ra tuyên bố mấy câu khiêm nhường và dăm điều ước nguyện, ông Obama loan báo sẽ đi nhận giải và nhờ đó vận động tiếp cho hoà bình thế giới. Sau đó ông vào chủ tọa một hội nghị về chiến tranh tại A Phú Hãn! Ủy ban Nobel không thiếu tinh thần hài hước.
Từ năm 2005, đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ đã tìm mọi cách đả kích Chính quyền George W. Bush về cuộc chiến tại Iraq - mà đa số của họ trong Quốc hội đã bỏ phiếu ủng hộ và cho phép vào năm 2003. Lý do là năm sau, 2006, có cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và đảng này thấy dư luận Mỹ đã xoay chiều về chuyện Iraq. Nhưng, vì sợ bị mang tiếng phản chiến và tháo chạy sau vụ Việt Nam, họ bèn lách từ chuyện Iraq qua A Phú Hãn: chiến trường Iraq là sai, đáng triệt thoái, chiến trường A Phú Hãn mới là phải đạo.
Nghĩa là cũng đầy dũng cảm trong thời chiến. Một sự dũng cảm của các chính khách.
Nghị sĩ Barack Obama cũng tranh cử trên chiến lược chính trị kiểu đó: đả kích hồ sơ Iraq là một thất bại lớn và đề cao giải pháp quyết liệt cho A Phú Hãn, là điều ông sẽ thực hiện nếu đắc cử. Quần chúng Mỹ tin tưởng - y như Ủy ban Nobel ngày nay - và dồn phiếu cho ông.
Nói là làm, nhậm chức ngày 20 tháng Giêng, Tổng thống Barack Obama quy tụ dàn cố vấn để tham khảo, nghiên cứu tận trước khi dõng dạc tuyên bố một "chiến lược mới" tại A Phú Hãn vào ngày 27 tháng Ba. Hôm đó, đứng giữa Ngoại trưởng Hillary Clinton và Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates, ông Obama tuyên bố là sau khi cân nhắc kỹ lưỡng với mọi cấp quân chính, các đồng minh và lãnh tụ Quốc hội, ông áp dụng một chiến lược mới cho cả A Phú Hãn và Pakistan. Ông nhấn mạnh tới chiến dịch chống nổi dậy, có sự phối hợp quân sự với dân sự để tiêu diệt lực lượng Taliban tại A Phú Hãn.
Sau đó, ông cách chức viên Tư lệnh chiến trường và bổ nhiệm Đại tướng Stanley McChrystal vào trọng trách đó vì McChrystal có dầy kinh nghiệm về hình thái chiến tranh chống khủng bố và đã lập thành tích rất lớn trên chiến trường Iraq. Rồi Obama đi lo chuyện khác.


Sau khi nhận sự vụ lệnh bước ra chiến trường vào tháng Năm và trong nhiều tháng liền, Tướng McChrystal chỉ được gặp vị Tư lệnh tối cao Obama chỉ có một lần. Ông nghiên cứu tình hình tại chỗ, tham khảo ý kiến ba quân và hai thượng cấp trực tiếp là Đại tướng David Petreaus và Đô đốc Michael Mullen để trình lên một báo cáo và nhiều đề nghị. Trên đại thể là cần xác định lại mục tiêu chiến lược, chống khủng hay chống nổi dậy (counter terrorism hay counter insurgency) và phương tiện được giao phó, ít ra phải có thêm từ bốn đến sáu vạn quân... Tướng Petreaus từng là Tư lệnh chiến trường Iraq và áp dụng thành công những kinh nghiệm ông học hỏi từ chiến tranh Việt Nam. Nay ông đang là Tư lệnh Quân khu Trung ương CENTCOM bao trùm lên 27 quốc gia và cả hai chiến trường Iraq và A Phú Hãn. Đô đốc Mullen là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, tức là Tổng tư lệnh Quân lực Mỹ.
Tướng McChrystal đệ nạp bản tường trình từ cuối tháng Tám mà không có hồi âm và chẳng được chỉ thị gì. Trong khi đó, từ phủ Tổng thống đã có những tiết lộ về một chiến lược mới nhằm giảm bớt quân số và tận dụng lực lượng đặc biệt cùng các phương tiện hiện đại như máy bay tự động loại Predator để diệt trừ khủng bố. Phó Tổng thống Joe Biden có thể là... tác giả của chiến lược đó vì cảm thấy áp lực rất mạnh của cánh tả và phe phản chiến trong đảng Dân Chủ.
Lồng bên dưới câu chuyện này là sự do dự giữa hai mục tiêu tại A Phú Hãn: truy lùng khủng bố al-Qaeda hay lực lượng phiến loạn Taliban"
Đầu não al-Qaeda thì nay đã chạy qua Pakistan, tấn công họ ở đó là vấn đề nan giải, nhất là về ngoại giao và chính trị, với xứ láng giềng này. Thượng viện Mỹ vừa ra đạo luật Kerry-Lugar nhằm viện trợ cho Pakistan với điều kiện xứ này phải... thực thi dân chủ và quân đội phải phục tòng một chính quyền dân sự rất nhu nhược yếu ớt. Quân đội Pakistan - xương sống về an ninh cho xứ này - mà bị ép thì nhiều tướng lãnh sẽ... kín đáo ủng hộ các nhóm Hồi giáo cực đoan, là chuyện đã từng xảy ra trong tổ chức tình báo ISI của họ.
Lực lượng Taliban thì vẫn có nhiều hậu cứ và sống trà trộn trong dân tại A Phú Hãn, muốn giải trừ thì phải tăng quân để bảo vệ và tranh thủ lòng dân A Phú Hãn hầu có được thông tin về tình báo. Và phải có đủ quân số để chặn đứng và diệt sạch các đợt tấn công kiểu du kích chiến của Taliban. Khi lãnh đạo Hoa Kỳ tại thủ đô lại bối rối và nhập nhằng về hai mục tiêu, các đơn vị ngoài chiến tuyến không biết là phải ứng xử ra sao thì đúng chiến lược... và hợp pháp" Lạng  quạng thì có khi bị truy tố về tội nặng tay tra tấn quân khủng bố!
Trong lúc ấy, Barack Obama vẫn chưa thể quyết định được gì. Vì vậy, phúc trình của Tướng McChrystal mới bị tiết lộ cho báo chí - qua ký giả lừng danh Bob Woodward của tờ Washington Post - để đạt tối đa hiệu qua. Và... cả nước bèn tranh luận về chiến lược A Phú Hãn.
Trên đại thể, ba viên tướng cao cấp nhất (Đô đốc Mullen, hai Đại tướng Petreaus và McChrystal) thì chủ trương phải xác định mục tiêu chiến lược và dù mục tiêu là gì đi nữa thì cũng phải đôn thêm quân thay vì chỉ có gần bảy vạn quân như hiện nay. Nếu không thì sẽ thất bại. Chung quanh Tổng thống thì Tổng trưởng Quốc phòng Gates và Cố vấn An ninh Quốc gia James Jones cho là nên nghiên cứu thận trọng hơn, và theo lời ông Jones (một Đại tướng hồi hưu) thì tình hình tại chỗ dù sao cũng chưa đến nỗi tệ như vậy! Phó Tổng thống Biden, một chính khách kỳ cựu, thì cho rằng tình hình ở hậu phương mới tệ nên mới nhá ý kiến là nên giảm chứ không nên tăng quân!
Trên nguyên tắc, các tướng lãnh thì chỉ biết chuyện quân chính ở tại chỗ, trên bàn cờ từ Trung Đông qua Trung Á, chứ các chính khách ở nhà thì nhìn bàn cờ rộng lớn hơn, bao trùm lên toàn cầu, gồm Liên bang Nga, Trung Quốc, Iran và cả thủ đô Mỹ, với các cuộc khảo sát dân ý được thường xuyên công bố. Và theo hiến pháp Mỹ, thành phần này mới có thẩm quyền quyết định tối hậu.
Làm cho Tổng thống Obama tối tăm mặt mày. Ông đã từng hùng dũng tuyên bố, gần nhất là hôm 17 vừa qua, rằng chiến trường A Phú Hãn mới là cuộc chiến cần thiết - "a war of necessity". Bây giờ sẽ tính làm sao về một chiến lược cần thiết cho một chiến trường cần thiết"
Đảng Dân Chủ tưởng rằng đả kích chiến trường Iraq và đề cao chiến trường A Phú Hãn là trò bắt cá hai tay đầy khôn ngoan vì vừa hốt phiếu phản chiến vừa chứng tỏ sự dũng cảm của mình. Bây giờ, họ phải trả giá cho sự dũng cảm ấy ngay tại chiến trường A Phú Hãn. Đúng lúc đó, Obama lại lãnh giải Nobel Hoà bình. Chính giải thưởng ấy lại càng bó tay kẻ trúng giải khi phải quyết định về chuyện chiến hoà hay tháo chạy khỏi A Phú Hãn! Vì vậy mới gọi là Giải sầu và nhiều người dân A Phú Hãn có thể chết oan vì giải này chi phối quyết định của một tổng thống tay mơ.
Ủy ban Nobel xứng đáng lãnh giải lạc quan nhất trong năm. Trong nhiều năm. Chúng ta phải nể sợ tinh thần lạc quan của những người chấm giải. Nhưng không nên quên bi hài kịch Nobel cho Kissinger và Lê Đức Thọ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.