Hôm nay,  

Niềm Vui Đầu Năm

02/01/202600:00:00(Xem: 644)

người già iStock-1410993224
Ảnh minh họa: istockphoto.com
 
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.

Nàng chọn giờ làm chiều Chúa Nhật hàng tuần, từ 4 giờ đến 8 giờ tối, công việc đơn giản nhẹ nhàng, phụ với Culinary staff chuẩn bị và phục vụ bữa tối.
 
Nhà Già này, có ba nhóm cư dân. Nhóm thứ nhất là những người còn khỏe mạnh, tự túc được mọi việc, họ chọn vào sinh sống ở Nhà Già để an hưởng tuổi già, không phiền bận con cái. Nhóm thứ hai, ở trên lầu một, là nhóm Assisted Living, là những người có chút bệnh của tuổi già, cần sự hỗ trợ của y tá và chuyên viên y tế trong chuyện ăn uống, theo dõi sức khỏe mỗi ngày. Nhóm cuối cùng, nhóm chăm sóc trí nhớ, dành cho những người bắt đầu hoặc đang bị vấn đề về trí nhớ, kèm theo các bệnh khác. Nhóm này, ở khu riêng biệt, cửa nẻo luôn đóng, chỉ có người có nhiệm vụ mới có thể vào, các cư dân cũng không thể tự tiện ra, vào như các cư dân của hai khu còn lại, ngoại trừ có người thân đến đón đưa hoặc y tá dẫn đi khi có việc cần.
 
Nàng làm ở khu các cư dân khỏe mạnh. Nàng đến nơi lúc 4 giờ chiều, dù giờ ăn bắt đầu lúc 4 giờ 30 chiều nhưng nhiều ông bà già rảnh rang đã lai rai kéo xuống phòng ăn. Có vài người tụ tập trước quầy bar, ngồi trên các ghế sofa tán gẫu chuyện mưa nắng và xem tin tức trên chiếc màn hình tivi, có vài người đến thẳng chỗ ngồi vào bàn, thảnh thơi lặng im, sẵn sàng đợi chờ bữa tối .
 
Nàng thích nhất thời gian này, khi nàng quanh quẩn ngoài phòng ăn, xem xét các bàn đã được setup đầy đủ ly, tách, muỗng nĩa, nước lọc, khăn giấy, trà và cafe, Nàng có dịp hỏi han, nói chuyện với ông này bà kia, những người có nhu cầu được nói, dù chỉ là những câu chuyện vẩn vơ không đầu không đuôi.
 
Từ thứ hai đến thứ bảy, bữa tối được phục vụ tận bàn cho cư dân. Riêng ngày chúa nhật, bữa tối được gọi là “Buffet and Pub Night”. Nhóm đầu bếp chuẩn bị thức ăn bên ngoài phòng ăn nơi có quầy dùng làm Buffet, các cư dân sẽ xếp hàng để tự lấy thức ăn, đem về bàn thưởng thức, dĩ nhiên, nếu có người nào “long thể bất an” thì có thể nhờ nhân viên lấy thức ăn giùm.

Sau bữa tối chúa nhật, đúng bảy giờ, phòng ăn sẽ được dọn dẹp gọn gàng, chừa một không gian rộng với nhiều chiếc ghế gần quầy bar, sẽ có một “one band man” đến chơi đàn guitar hoặc keyboard, ca hát giúp vui cho các cư dân có một cuối tuần vui vẻ.
 
Họ ngồi thưởng thức những bài hát theo yêu cầu, nhắc nhớ một thời kỷ niệm vàng son, có thể kêu chút rượu nếu không muốn uống trà hoặc cafe, nếu có hứng thì bước ra sàn nhún nhún theo điệu nhạc, cũng vui lắm.
 
Nàng thích thời gian “giải trí vui chơi” này, nhìn ngắm các ông bà già yêu đời theo lời ca tiếng nhạc, theo từng điệu nhảy, họ như trẻ ra, như những chàng trai thiếu nữ của những ngày ấy xa xôi.
 
Chủ nhật hôm ấy, mới sau Lễ Giáng Sinh, các ông bà già ai cũng hớn hở, có lẽ những ngày Lễ vừa qua đã được con, cháu đến thăm, hoặc đón về nhà chung vui  quây quần, nhận những món quà từ những người thân yêu . Nàng vừa bước vào chỗ làm, bà Ellen khoe liền:

-          Chiếc áo đầm này cô thấy đẹp không, con dâu tôi tặng đấy.

Ông Bryan tiến đến:

-          Còn đây chiếc mũ mới, con trai tôi lùng khắp thành phố để mua đúng chiếc tôi yêu thích đấy.

Bà Wendy hài hước ồn ào hơn:

-          Ối dào, mấy đứa cháu nội tưởng tôi còn sung sức nên cho tôi mấy chai rượu vang, đêm giao thừa sắp đến tôi phải… mở tiệc, chơi lớn luôn!
 
Cả buổi ă tối buffet hôm ấy, Nàng cũng vui theo những cư dân hạnh phúc này, những câu hỏi thăm về mùa Noel luôn là cảm hứng cho những câu chuyện bất tận.
 
Rồi đến giờ dọn dẹp cho đêm nhạc, lần này đặc biệt hơn, sẽ có thêm một người chơi keyboard bên cạnh “one man band” guitar vì là mùa Lễ, chuẩn bị đón Năm Mới.
 
Nàng vẫn theo thường lệ trách nhiệm của mình, đứng nơi bàn trà và cafe để phục vụ khi có yêu cầu. Ban nhạc, mỗi trước bài hát, thường có vài lời tâm tình, hỏi han các cư dân có biết bài này bài kia, có kỷ niệm gì thì chia sẻ, sau đó mới hát, có khi còn nhắc các cư dân hát theo, rồi vỗ tay.
 
Đến gần cuối giờ, vì chúa nhật tuần sau sẽ lố qua ngày đầu năm, nên tối nay mọi người sẽ cùng nhau “count down” đếm giờ đón mừng năm mới với ban nhạc. Nơi quầy bar đã có sẵn những chiếc mũ giấy sặc sỡ, những chiếc kèn giấy, và cả những túi confetti, khi đèn được tắt bớt đi, chỉ còn ánh đèn màu mờ ảo, ban nhạc chậm rãi nổi lên bài nhạc nổi tiếng của đêm giao thừa “Auld Lang Syne” cùng giọng ca trầm ấm của chàng “one man band”.
 
Cả phòng bỗng im lặng, không gian chùng xuống, hình như ai cũng thả hồn theo khoảnh khắc mỗi năm chỉ có một lần này, và nàng cũng thế. Nàng nhớ gia đình, tình thân ruột thịt, nhớ bạn bè của những mùa lễ đầu năm nơi quê nhà, nhớ tuổi thanh xuân, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn trào không thể ngăn lại. Khi bài nhạc kết thúc, tiếng “pháo hoa” rộn rã từ những chiếc kèn giấy, tiếng cười, chúc tụng ồn ào, bài hát khác nhộn nhịp bắt đầu, có vài ông bà già bước ra sàn nhảy, nàng sực tỉnh, tìm hộp khăn giấy, thì phía sau có tiếng hỏi nhẹ nhàng:

-          Cô có sao không? Tôi mời cô nhảy nhé!?

Nàng vẫn cúi đầu, bối rối lau nước mắt, vội vàng trả lời:

-          Không! Tôi không sao cả, cám ơn!

Có tiếng bước đi chậm rãi, Nàng quay ra nhìn, đó là bóng dáng của ông Joe đang từ từ chống gậy đi về phía thang máy nơi cuối hành lang.
 
Ruth, cô nhân viên làm chung, nói với nàng:

-          Hình như ông Joe buồn vì cô đã từ chối lời mời ra sàn nhảy của ông ấy!
 
Trời ơi, nào Nàng có để ý đến câu mời của ông Joe khi Nàng còn đang rối bời với bao cảm xúc buồn vui theo tiếng nhạc Auld Lang Syne (có ai nghe bài này mà không bâng khuâng?). Lòng nàng tràn ngập nỗi day dứt, vô tình nàng đã đem lại nỗi buồn cho ông Joe vào thời khắc của mùa cuối năm này. Bây giờ nàng có muốn mời ông nhảy cũng đã muộn rồi, ông vừa bước vào thang máy, trở về phòng.
 
Ruth nhìn nàng, mỉm cười:

-          Thôi cô đừng buồn, cô có cơ hội chuộc lỗi trong bữa tiệc “New Year” dành cho nhân viên vào tuần tới.
-          Ừ nhỉ! Tôi mới vào làm, nên chưa biết tiệc cũng có cư dân Nhà Già tham dự sao?
-          Tiệc cho chúng ta, nhưng có một số cư dân làm thiện nguyện, giúp dọn dẹp, đứng quầy bar, tặng quà, phục vụ chúng ta, có DJ chơi nhạc, và bất cứ cư dân nào muốn xuống chung vui cũng được, vui lắm, rồi cô sẽ thấy.
-          Vậy ông Joe trong nhóm thiện nguyện ư?
-          Mọi năm thì có, còn năm nay ông mới bị bong gân mắt cá chân vì hôm bữa giúp ông Terry kê lại cái sofa, ổng mang gậy cả tuần nay cô cũng biết mà, nhưng chắc chắn ông Joe sẽ xuống vì ổng hoạt bát và chưa bao giờ bỏ lỡ… cuộc vui nào!
 
Nàng nhẹ nhõm cõi lòng, vì Joe là một trong những cư dân Nàng thường chuyện trò và cảm mến nhất nơi Nhà Già. Tuổi trẻ của Joe rong ruổi khắp miền đồng bằng thảo nguyên của đất nước, với công việc kỹ sư Nông Nghiệp. Khi về hưu, hai vợ chồng Joe là thành viên hăng hái của Hiệp Hội Red Cross. Cách đây năm năm, vợ Joe qua đời, ông ở lại căn nhà nhỏ vẫn tiếp tục niềm vui thiện nguyện, rồi hai năm sau, hai người bạn thân của ông cũng rời xa ông: một người đi về bên kia thế giới, một người đi tiểu bang khác, nên ông quyết định dọn vào khu Nhà Già này, tìm thêm những người bạn mới chia sẻ buồn vui quãng đời còn lại.
 
Nhìn Joe nhanh nhẹn, khó ai đoán được trúng tuổi 85 của ông. Cao gầy, khỏe mạnh, Joe thường xuống ăn tối với chiếc quần Jeans và áo thun hoặc áo sơ mi ngắn tay gọn gàng, nói chuyện rôm rả, dí dỏm hài hước với tất cả mọi người, kể cả mấy bà già khó tính nhất trong Nhà Già cũng phải bật cười mỗi khi nghe Joe kể chuyện.
 
***
 
Ngày tiệc Năm Mới, vợ chồng Nàng đến sớm, hòa vào không khí nhộn nhịp, ngắm nghía không gian bữa tiệc đã được trang trí thật đẹp. Khán phòng đông đúc, Nàng chẳng thấy Joe đâu, Nàng tính đi ra cửa hỏi thăm bàn tiếp tân Nhà Già, nơi có theo dõi chi tiết mỗi ngày, cư dân nào đi đâu, với ai, có xuống ăn trưa ăn tối hay không, có bệnh hoạn vào bệnh viện hay ở tại phòng… thì may quá, Ruth xuất hiện giải tỏa thắc mắc cho Nàng với khuôn mặt đăm chiêu giùm Nàng:

-          Hồi trưa ông Joe được vợ chồng cô con gái đón về nhà ăn tối, không biết có quay về đây, hay sẽ ở qua đêm nhà con gái?
 
Nàng trở lại bàn, băn khoăn, coi như đêm nay không có dịp được chuộc lỗi với Joe. Bên ngoài tuyết đang rơi dày đặc, dự báo thời tiết cho biết nhiệt độ sẽ rất lạnh trong suốt tuần lễ, người trung niên như Nàng còn thấy ớn lạnh, huống chi những người già, chẳng ai muốn ra ngoài đường nếu không có việc cần thiết.

Giữa buổi tiệc, Nàng quay qua chồng:

-          Mình về thôi anh, đường xa trơn trợt lắm. Chắc ông Joe ở lại nhà con gái rồi!

Chồng nhìn Nàng, cảm thông:

-          Đành vậy! Lần tới em sẽ mời Joe nhảy sau bữa tối “Buffet and Pub Night”, cũng vẫn còn tháng 1, còn là New Year.
 
Nhưng kìa, Nàng nhìn ra ngoài khi cánh cửa ngoài bàn tiếp tân mở rộng, dáng cao gầy của Joe bước vào cùng vợ chồng cô con gái. Joe nở nụ cười tươi chào cô tiếp tân, vừa đứng giậm chân nơi tấm thảm để rũ bỏ những mảng tuyết còn bám trên đôi giày boots, cô con gái phụ bố cởi chiếc áo măng tô dày màu lông chuột, cậu con rể ôm Joe tạm biệt, rồi đôi vợ chồng bước ra khỏi cửa. Nàng sung sướng, rời bàn, chạy đến bắt tay Joe:

-          Happy New Year Joe! Tôi đợi ông nãy giờ, cứ tưởng ông không về tối nay!

Joe rạng rỡ cầm tay Nàng:

-          Tôi phải về chớ, dù con gái có nài nỉ tôi ở lại qua đêm, tôi nhớ mấy ông già bà già bạn của tôi, và nhớ mấy cô nhân viên dễ thương tốt bụng như cô nữa đấy.

Nàng nói vội vàng vì sợ Joe đổi đề tài:

-          Vậy tôi xin được mời ông nhảy nhé. Tôi xin lỗi vì tuần trước không nhảy với ông, khiến ông buồn…

Joe bật cười lớn:

-          Trời ơi! Tôi không buồn cô chút nào hết á! Cô biết không, từ khi vợ tôi mất, tôi thường có thói quen, là chiều cuối năm sẽ uống champagne một mình với…vợ và đón giao thừa với bả, nhưng hồi tuần rồi chưa phải chính thức giao thừa nên tôi mới ở lại chung vui, ai dè ban nhạc chơi bài Auld Lang Syne hay quá, làm tôi rưng rưng xúc động nhớ vợ, quay qua thấy cô đang khóc, chắc cô cũng nhớ kỷ niệm nào đó, nên tôi muốn chia sẻ an ủi, nhưng cô còn nức nở hơn, tôi đành bỏ về phòng tâm sự cùng…vợ vậy!
 
Nàng giúp Joe treo chiếc áo khoác trên móc áo ngoài phòng tiếp tân rồi kéo ông ra sàn nhảy, đúng lúc DJ chuyển qua điệu slow rock chậm rãi. Nàng và ông đứng đối diện nhau, nhún nhảy theo điệu nhạc giữa đám đông cũng đang nhịp nhàng theo từng bước nhảy. Ông Joe hôm nay mặc chiếc quần kaki màu đen, với chiếc áo thun tay dài màu bọc-đô, bỏ trong quần với dây thắt lưng đúng điệu, đúng màu sắc của Năm Mới, miệng cười liên tục, vừa nhảy vừa chào hỏi những người nhảy gần bên, rồi nháy mắt nhìn nàng như biểu nàng đừng ghi nhớ chuyện của tuần trước, hãy vui lên, năm mới mà!
 
Nàng cũng chợt nhận ra, ông Joe không còn mang gậy, vậy là chân của ông đã khỏi hẳn, không còn bong gân nữa!
 
Quả là một niềm vui đầu năm!
 
Edmonton, Tháng1/2026,
KIM LOAN 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.