Hôm nay,  

Trăng Mùa Gặt Hái

27/08/202515:35:00(Xem: 1724)
nguyetcam01
Nguyệt Cầm - Đinh Trường Chinh

 

Năm ấy cô mười tám tuổi, tốt nghiệp trung học, vừa thi xong kỳ thi tuyển vào trường cao đẳng. Cô mới đến Canada năm năm, từ trại tị nạn. Cô đến trường ban ngày, đêm làm việc ở McDonald’s, đôi khi tiệm ăn khác. Cuối tuần đi lau dọn nhà cho cô giáo chủ nhiệm kiếm thêm tiền. Cô buồn ngủ suốt ngày. Những khi không đến trường, không làm việc, cô ngủ bù trong cái phòng nhỏ của mình, dưới hầm, chật chội, ẩm, tối. Cửa sổ phòng cô nằm ngang mặt đất, nhìn ra thấy bụi cỏ xanh tốt, đôi khi một con dế dương râu nhìn cô chằm chặp. Nhưng cô nằm mơ những giấc mơ đẹp, ngoài cửa sổ hoa lê trắng, hoa lựu đỏ, hoa anh đào hồng mọc lấm tấm. Cô thức dậy khi nghe tiếng chuột chạy. Nhà vắng, cô lục thức ăn nguội trong bếp, ngồi ăn một mình, xong thu dọn hành lý vào cái ba lô, kiểu người ta đi hiking. Cô gặp ba cô ở cửa, ông vừa đi làm về. Đi đâu, con gái Suzanne? Con đi chơi với chúng bạn. Cô nói dối. Cô rất sợ ba cô, một người đàn ông hiền hậu nhưng nóng tính, sáu năm trong trại cải tạo biến ông thành một người khác, ít nói, rầu rĩ, cáu gắt, hung bạo. Ông cấm cô có bạn trai quá sớm, cấm đi chơi về khuya. Cô không bao giờ dám tâm sự với ông. Cô sẽ đi về Sakatoon bằng chuyến xe buýt đường dài, sẽ ở lại ba hay bốn đêm ở đó, trong nhà một đứa bạn gái. Để làm gì? Cô không biết. Cô có một giấc mộng: một kế hoạch làm giàu. Cô muốn các em cô được ở nhà sang trọng, mẹ cô không phải đi làm trong hãng may với hai bàn tay đau nhức, lẩy bẩy, tối nào cũng bắt cô xoa bóp. Trong khi ở đây mùa hè, chim chóc hót líu lo, thì ở phía bắc Saskatchewan, trời trở lạnh. Chuyến xe buýt chạy đơn độc trên đường, về chiều tuyết bỗng xuống mịt mù, cô nhìn thấy trên ngọn đồi, dưới thung lũng, những con chó sói đầu tiên trong đời. Những con báo hoa. Mèo rừng. Những con coyotes. Những cánh đồng lúa mì đã gặt, đồng cỏ “hay” trồng cho ngựa ăn, loại cỏ cuộn thành bó tròn lăn trên mặt đất lấm tấm hạt tuyết trắng như hoa cúc. Liệu cô có thi hỏng kỳ thi vừa qua không.

Cô không biết. Cô học kém môn toán, sinh vật, khoa học, tiếng Pháp, tóm lại môn nào cô cũng lơ mơ vì vào học ngang giữa chừng, không hề chuẩn bị, sau mấy năm bỏ học trong trại tị nạn, từ năm chín tuổi. Trong khi tụi bạn có đủ thức ăn, quần áo, nghỉ ngơi, giải trí, sự hướng dẫn, anh trai, xe đưa đón, thì cô không có gì cả. Cô đi xe buýt mỗi ngày mất hai giờ từ nhà đến trường, trường về nhà. Không có đủ sách vở. Không có giờ để ngủ. Người ốm yếu. Nhưng giọng nói của cô trong veo như nước suối trong bình pha lê đặt ngay ngắn giữa bàn trong nhà cô giáo chủ nhiệm. Đi học trong mùa đông lạnh giá cô chỉ có một cái áo khoác mỏng màu xám, ngồi trong lớp cũng mặc y vậy. Cô giáo bảo: Suzanne, em làm sao thế, cởi áo ngoài ra chứ. Nhưng cô không cởi được, vì quá lạnh. Cha mẹ cô là người tị nạn, nhưng không nhận tiền trợ cấp chính phủ, cặm cụi đi làm ngay từ khi đến xứ sở mới, để dành ki cóp gởi về Việt Nam, các em còn nhỏ, đứa nhỏ nhất bảy tuổi, đứa lớn mười ba, ba đứa con trai, không giúp được việc gì, cô phải làm thêm để phụ mẹ. Cô không nghĩ rằng cô sẽ thành công bằng đường học vấn, nhưng cô tin cô sẽ thành công một cách nào đó, ngày mai, hay tháng sau, hay năm sau. Cô sẽ kết thúc lớp mười hai, nhận bằng tốt nghiệp. Cô đã để dành đủ tiền may bộ quần áo mặc trong lễ ra trường. Tháng trước ba cô dẫn đi chụp một tấm hình thật đẹp, mang áo choàng, mũ, khăn, một thiếu nữ xinh xắn như thể vừa tốt nghiệp từ một trường danh tiếng, Harvard hay Yale chẳng hạn. Khi đi học cô chỉ vừa đủ điểm để thi đỗ các môn. Cô mơ ước làm y tá nhưng biết không đủ sức, cô sẽ cố gắng vào học một trường cao đẳng cộng đồng, rồi sẽ bỏ học giữa chừng vì đuối sức trước khi bị đuổi học, sẽ ghi danh học một lớp đánh máy, sẽ xin làm một chân thư ký ở các văn phòng địa ốc hay luật sư, và để đủ tiền sinh hoạt, cô sẽ đi làm thêm buổi tối ở tiệm McDonald’s nhiều năm nữa, nơi cô được chủ tin tưởng, sẽ làm thêm giờ với lương tối thiểu nhưng cô sẽ bỏ việc ở một tiệm ăn khác, vì chỗ đó quá xa, và người quản lý, một anh chàng Á châu đứng tuổi, giọng nói ngọt ngào, thích đề nghị chở cô về nhà buổi tối, thỉnh thoảng cho cô những món quà nhỏ, làm cô thấy ngại. Trước khi nghỉ ở , cô cần phải xem thử người ta có chịu tăng giờ ở McDonald’s không đã. Tiền thuê nhà đang lên tháng này, nhà sáu miệng ăn trong đó ba đứa trẻ, ba người lớn, ở một tầng hầm basement ẩm thấp, mẹ cô kêu đau nhức ở đầu gối, bây giờ đã lan ra cả khuỷu tay, bàn tay. Buổi tối bà kêu cô xức dầu nóng ở những khớp xương đau nhức. Cô cầm bàn tay của mẹ lên, bà mới năm mươi tuổi mà những khớp xương thứ nhất ở hai bàn tay của bà sưng lên và cong lại như móng vuốt của loài chim sắp tuyệt chủng. Cô thương mẹ, muốn làm nhiều giờ hơn.

Nhưng cuộc đời của cô còn ở phía trước. Tình yêu đối với cuộc sống và sự mơ mộng không hề phân biệt người giàu và kẻ nghèo, người tị nạn và dân bản xứ, học sinh giỏi và bọn học dốt như cô. Cô sẽ để dành tiền và thuê một căn phòng cao ráo sáng sủa, vì ở tầng hầm mẹ cô ngày càng đau khớp. Cô sẽ mua bảo hiểm nhân thọ, loại rẻ nhất, và nếu dư dả hơn cô sẽ giúp mẹ mua bảo hiểm giáo dục cho các em. Rồi cô sẽ chơi stocks, đó là những năm mà chứng khoán đang lên trên thị trường, ai cũng phát điên phát rồ vì tiền và lời hứa hẹn của nó. Rồi cô sẽ thắng vài vụ, thắng nữa, giàu lên nữa trong một đêm, và trong khi chưa kịp ăn mừng, cô sẽ mất sạch sau một đêm, như tất cả những người khác. Nhưng cô không tự tử.

Bây giờ thì cô đang ngồi trên xe buýt, hàng ghế sau cùng, ấm áp, dễ chịu, nghĩ đến tương lai trong khi ngoài trời tuyết rơi như múa, bầy quạ đậu đen cả một nhành cây, những con chó sói hú gào trên ngọn đồi giữa những cánh đồng phía bắc của tỉnh Sakatchewan còn thơm mùi lúa mì mới gặt xong. Cô ngủ gật. Giấc mơ nào cũng dẫn người ta đi rất xa.

Cô thức dậy, bàng hoàng mở mắt thấy mọi người trên xe đang xếp hàng ra cửa gần hết. Xe đang dừng trên bến xe. Cô hoảng hốt lao xuống, cúi người kéo cái ba lô nặng trĩu của mình từ gầm xe. Xe vẫn nổ máy rì rầm làm cô nóng cả ruột. Cô nhìn quanh, thở phào nhẹ nhõm. Khi xe đã chạy, khi những người hành khách đã tản đi mọi nơi, cô tò mò đứng nhìn những tấm bảng chỉ đường, ngơ ngác. Cô tiến lại một người đang đứng chờ xe buýt ở phía bên kia đường. Người đàn bà da trắng mập mạp, vẻ mặt cáu kỉnh, chắc có điều gì buồn bực kiểu như vừa cãi nhau với bạn trai, bạn có thể đoán được. Bà ta khẳng định với cô rằng cô đã lo sợ đúng, tức là cái chỗ cô định xuống kia không phải ở đây. Quá sớm, bà ta bảo thế. Cô xuống xe quá sớm, chưa vào đến trạm xe buýt trong thành phố mà cô cần đến. Từ đây đến đó bao xa? Ba giờ lái xe. Cô kinh hãi.

Ba giờ. Cô nhìn trời bầu trời xám, tuyết mỏng đã ngừng rơi nhưng mây bay qua lớp lớp, mây màu bạc, mây màu chì, cuồn cuộn như sóng, như nỗi lo âu của kẻ xa nhà. Cô ra đường, đứng sát lề để cho người lái xe dễ thấy, ngoắc tay lia lịa, cô vẫn thấy những cô gái chàng trai làm thế trên đường cao tốc. Cái bà lúc nãy, hóa ra là người tử tế, đi ngang qua, ghé tới gần cô, bảo cô muốn đón xe quá giang phải không, vậy thì phải đi ra chỗ kia kìa, cạnh đường cao tốc, trong này là đường hẻm ai mà đón, hở cái con bé nhóc tì. Cô nhớ ra, cám ơn rối rít. Xốc cái ba lô trên vai chạy về phía đường lớn có những đoàn xe đang chạy. Cô vẫy mỏi cả tay không xe nào dừng lại. Con người ngày càng bớt tử tế, cô ngẫm nghĩ, nhớ lại rằng mới cách đây dăm năm khi mới đến, cô thấy người ta đón xe dễ dàng trên đường, thế mà nay cô đứng cả tiếng đồng hồ không người nào ngó tới. Chỗ cô đứng ngay ở vòng cua gấp, xe chạy nhanh, ít người chịu khó dừng lại. Cô sẽ thất bại một lần nữa, như đã từng thất bại trong môn toán, môn hóa học, môn sinh vật, tiếng Pháp, và tiếng Anh.

Thế rồi anh đến. Trong chiếc xe Honda Prestige cũ, màu đỏ hai cửa, kiểu thể thao, hai ngọn đèn trước có cái chụp như cái mũ, khi bạn bật đèn thì nó mở ra khi bạn tắt đèn thì nó sập lại, tuy vậy đôi khi nó làm ngược lại, bạn bật đèn mà đường tối thui. Anh thắng gấp, vì nhìn thấy cô muộn, bánh xe trước siết lên mặt lộ, kêu két. Xe anh đỗ sát lề đường, các xe tải lớn chạy qua vun vút thổi rát cả mặt. Anh mở cửa. Khi cô lí nhí cám ơn thì anh không trả lời, chỉ khẽ gật đầu. Cô thấy anh có vẻ đáng ghét, khinh người, lạnh lẽo. Thực ra anh đang mải nhìn đường, lúc ấy đã tối, xe tải chạy gấp quá, rầm rập, nguy hiểm, phải một lúc sau anh mới ra được, hòa vào dòng xe cộ. Cô ngồi im thin thít, cái túi xách như ba lô kẹp giữa hai đùi, lòng lo lắng đủ thứ. Cô không nhìn mặt anh, chỉ đoán đó là một chàng trai lớn hơn cô rất nhiều tuổi, mười hoặc mười lăm tuổi, tức là ngoài ba mươi, mặt rắn rỏi, cái nhìn buồn buồn. Người cao nhỏng, mặc chiếc áo khoác ngắn, loại không thấm nước. Anh mở nhạc. Lần đầu tiên sau nhiều năm cô nghe lại một băng nhạc cũ. Tiếng người ca sĩ ngân nga trong khoảng không gian mờ tối, hẹp, ấm, của chiếc xe nhỏ. Anh có lẽ là người thích nghe nhạc, nhịp tay nhè nhẹ lên vô lăng. Anh huýt sáo theo bản nhạc.

Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở. Anh nhớ lại số tiền mặt trong túi. Một lúc sau anh đổi ý, gợi chuyện. Họ chuyện trò về mọi thứ. Anh học đại học bỏ ngang giữa chừng vì chuyện cá nhân. Chắc lại chuyện thất tình, cô nghĩ, không nói ra, tự cười trong lòng. Anh bỏ học từ Edmonton về đây làm việc trong một nhà máy, đã mấy năm. Có thể anh sẽ đi học trở lại. Trước khi cô xuống xe, anh tự xưng tên mình và kịp hỏi tên cô. Cô mỉm cười không nhắc lại cái tên ấy của anh, nhưng cô ghi nhớ. Anh muốn học làm kỹ sư nông nghiệp. Saskatoon là một trung tâm nông nghiệp. Cô vừa thi xong kỳ tốt nghiệp trung học. Anh đưa cho cô một thỏi kẹo sô cô la, có lẽ còn sót lại duy nhất trong cái túi vải sau khi anh lục lọi hồi lâu. Thời ấy xe hơi còn xài băng cát xét. Anh vừa lái xe vừa nhờ cô tìm cho anh một bài hát mà anh muốn nghe. Cô tìm được bài hát ấy, họ cùng nghe. Cô kể, vừa đi học đi làm, có ba đứa em trai nhỏ nghịch ngợm. Cái phòng ngủ của cô có con dế ngoài cửa. Đó là tất cả những gì họ trao đổi với nhau.

Đột nhiên cô cảm thấy cô yêu anh.

Không, không phải cô cảm thấy thế. Không phải cô nghĩ thế. Mà cô quyết định thế.

Khi người ta còn trẻ, ai cần lý do? Cô chưa từng hỏi anh có vợ chưa. Cô chưa từng hỏi anh bao nhiêu tuổi, tương lai của anh ra sao, anh đã từng theo học trung học ở đây như cô chưa, anh có chơi stocks không. Cô chưa từng hỏi anh có thi hỏng như cô không. Cô chưa từng hỏi anh sẽ thành công hay sẽ thất bại. Ngoài trời tuyết đã tạnh, trên mặt đường vẫn còn những vũng nước đang tan. Anh dừng lại bên đường đổ xăng. Cô đứng từ xa nhìn anh. Cô nhìn bàn tay thanh mảnh của anh cầm cái vòi đổ xăng. Nhìn cái dáng anh từ phía sau lưng. Cái dáng nhanh nhẹn nhưng buồn rầu, tội nghiệp, cô độc. Cô biết anh là người thông minh, nhưng bướng bỉnh, không phải loại người hay gặp được may mắn. Anh vào bên trong tính tiền, khi bước ra, tới gần xe, sắp mở cửa, anh đứng sững lại, nhìn lên trời. Thấy cô ngạc nhiên, anh chỉ tay cho cô nhìn theo. Trăng lên. Sau những đợt mưa tuyết ngắn rơi bất chợt, rồi dừng ngay, bầu trời trong và ấm trở lại. Mùa gặt hái sắp bắt đầu. Mùa dâu, strawberries, mùa lê, táo, nho. Trăng tròn, sáng rực, màu vàng đậm ngả sang đỏ, như màu mận chín, màu kinh nguyệt, màu giấc mơ, nằm ngay trên đỉnh núi. Anh bảo cô, ở đây vùng đồng cỏ người ta gọi trăng rằm mùa này là harvest moon, từ tháng tám đến tháng mười, nghĩa là trăng mùa gặt hái.

Bây giờ cô đứng đó. Không phải trạm đổ xăng. Trên một bãi đậu xe rộng rãi, tấp nập, vây quanh là shopping malls, trong ánh điện sáng. Cô đứng sững lại vì nhìn thấy anh. Cô nhìn thấy cái má của anh hóp vào, nơi ngày trước hình như là lúm đồng tiền, mái tóc điểm bạc, chiếc cổ cao, gầy, mặc một cái áo khoác xám, kiểu xưa. Cô thấy anh đang đi tới. Khuôn mặt anh đã già đi nhiều, đã khác đi nhiều, nếu đó chính là anh. Má bên phải có sợi râu dài. Cô ngờ ngợ, không tin vào mắt mình. Cho đến khi anh mỉm cười nhìn thẳng vào mắt cô. Thì cô biết.

Cô tưởng anh nhận ra cô, nhưng không phải, anh mỉm cười với một người nào đó phía sau lưng cô, anh đi lướt qua, rõ ràng không chú ý đến cô. Ngày trước cũng vậy, sau khi lên xe phải nhiều phút sau, khi xe cộ vắng trên đường, anh mới thong thả liếc nhìn cô, không phải liếc nhìn, mà cái nhìn chăm chú, rõ ràng. Tôi đang nhìn cô. Anh muốn nói thế, hay cô nghĩ thế. Bỗng người đàn ông quay lại. Suzanne. Anh ta reo lên. Tim đập rộn ràng, cô cố trấn tĩnh, từ từ quay lại. Nước mắt cô ứa ra.

Tất nhiên đó chỉ là sự tưởng tượng của cô. Anh không reo lên như vậy. Anh chưa bao giờ reo lên như vậy với cô. Trong đêm đầu tiên ngủ chung phòng với đứa bạn ở Saskatoon, họ quen thân nhau từ khi còn ở trại tị nạn, cô kể lại câu chuyện hồi chiều, cố tỏ ra tình cờ, không quá hào hứng. Cô bạn vừa ngáp vừa nghe chuyện, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo: Ở đây ai cũng thế. Có lẽ cô ta muốn nói ai cũng sẵn sàng làm cái việc tử tế bình thường như thế cả, hay có ý gì khác nữa thì cô không biết. Cô muốn cãi lại rằng tử tế và tình yêu là hai thứ khác nhau, nhưng cô im lặng, quấn cái chăn chặt, cố dỗ giấc ngủ. Lúc này đây trên đầu cô, như sau một mùa đông dài, bầu trời sáng lên trước khi tối hẳn. Phía đường chân trời, cô nhìn thấy mặt trăng, từ từ sáng lên, tròn, to, đỏ sẫm. Vầng trăng gặt hái. Hay là vầng trăng ấy không có thực? Vì nó đỏ quá, sẫm quá, như một giấc mơ. Vì vậy nếu người đàn ông ấy quay lại và hỏi: Xin lỗi, tên cô là gì? Cô sẽ im lặng.

Cô đã từng im lặng khi thi hỏng kỳ thi vào cao đẳng ấy. Cô đã từng im lặng khi ba cô chặn cô ở cửa tát một cái như trời giáng và hỏi: Mày đi đâu trong ba ngày qua, đồ con gái hư? Cô sẽ im lặng như khi người quản lý nhà hàng yêu cầu cô ở lại làm thêm giờ đến nửa đêm, nhưng không trả tiền lương overtime cho cô. Hắn chưa bao giờ trả. Cô đã từng im lặng khi mất sạch tiền trong savings account vào trò chơi chứng khoán năm cô mười chín tuổi, với hy vọng sớm có tiền thuê một căn gác sạch sẽ hơn là tầng hầm basement nhìn ra bụi cỏ cao có con dế vuốt râu trầm tư.

Bây giờ, nếu anh quay lại, cô tưởng tượng thế, và hỏi:

Xin lỗi, có phải cô tên là Suzanne không?

Không. Cô sẽ trả lời người ấy. Xin lỗi, tôi không phải là Suzanne.


Nguyễn Đức Tùng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.