Hôm nay,  

Đại Bàng Gãy Cánh

8/31/202510:51:00(View: 3497)
blank 

ĐẠI BÀNG GÃY CÁNH
 
Truyện của Kim Vũ
 

Lộc đã chết!
  

Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
 

Lộc là thiếu tá phi công trực thăng. Tích đã quen anh rất tình cờ, qua một người bạn, và cũng chưa biết gì nhiều về anh. Chỉ biết rằng ngay từ lần đầu tiên, chàng đã có thiện cảm đặc biệt đối với anh. Lộc cùng tuổi với Tích, cao lớn, đẹp trai, đúng là một mẫu sĩ quan không quân lý tưởng. Và anh cũng rất hiền, sống một cuộc đời rất nguyên tắc. Anh lập gia đình mới khoảng ba năm nay, mới có đứa con trai đầu lòng chưa đầy một tuổi, và đang chờ đứa thứ hai. Anh không ham vui như những sĩ quan khác trong cái binh chủng nổi tiếng là hào hoa này. Anh rất biết lo cho gia đình, không nhảy đầm, không rượu chè cờ bạc. Không ai có thể nghĩ một con người có cái bề ngoài rất bảnh bao, bay bướm đó lại hiền hòa như vậy. Khi Tích gặp anh tại nhà người bạn, anh vừa thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Trong một phi vụ, kính trực thăng trước mặt anh đã trúng đạn vỡ toang, mảnh vỡ bắn vào mặt anh, gây ra một vết thương ngang trán. Cũng may mà nó không trúng vào mắt, và tuy vết sẹo vẫn còn chưa lành hẳn, trông anh hoàn toàn đầy đủ phong độ. Dường như tai nạn chỉ là một vết xước trên da. Tích đã nghĩ một con người như thế không dễ dàng gặp thêm tai nạn lần thứ hai. Vậy mà bây giờ anh đã ra đi vĩnh viễn. Tích thấy như có một khoảng trống trong tâm trí chàng, khoảng trống của sự sửng sốt, vô cảm xúc, tê dại trước một sự kiện quá đột ngột, khiến chàng chưa kịp phản ứng ra sao.
 

Dù không quen thân lắm vì chỉ mới biết Lộc gần đây, Tích vẫn đi dự đám tang anh. Trực thăng của anh đã rớt trong một vùng không an ninh, và phải ba bốn ngày sau khi anh mất tích, người ta mới đem được xác anh về để khâm liệm. Tích được biết lúc đó thi thể anh không còn nguyên vẹn như cũ mà đã bị trương lên rồi. Con người khi mất đi sự sống thì chỉ trong vài ngày là đã không thể nhận dạng được nữa. Và những tình cảm yêu thương của những người thân lúc đó có lẽ phải mất đi khi chứng kiến sự phân hóa của cơ thể, và thay vào đó là cái cảm xúc rùng rợn, ghê sợ thấy một cái gì thân thiết đã biến dạng hoàn toàn, đã mục nát băng hoại, đã mất hẳn chất người.
 

Dĩ nhiên là Tích không nhìn thấy Lộc trong cái hình thể xấu xí, ghê rợn đó. Vì vậy, trong tâm tưởng chàng, Lộc vẫn còn nguyên những nét đẹp cũ. Chàng chỉ thấy linh cữu anh với những ngọn nến cháy lung linh, và tấm di ảnh của một sĩ quan trong bộ quân phục đại lễ, nom oai nghiêm, hùng dũng, với cặp mắt tinh anh và gương mặt cương nghị.
 

Lộc được chôn tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đám tang tiến hành giản dị, chỉ có họ hàng thân thích và vài ba người bạn cố tri. Tích đến nơi khi linh cữu sắp được hạ huyệt. Đó là một buổi sáng âm u. Nghĩa trang hoang vắng, đìu hiu. Không một tiếng chim hót. Những tán cây ủ rũ, co ro trong cái rét của một ngày trở gió. Những tiếng cuốc đào huyệt vang lên đanh lạnh. Người vợ trẻ mang bầu đang ngồi bên bờ huyệt, khăn sô trắng che kín mặt, nhưng vẫn có thể nhìn thấy mắt nàng sưng húp. Có lẽ nàng đã kiệt sức vì lo buồn trong cả mấy ngày qua, những ngày chắc hẳn phải kinh khủng trong đời nàng. Đứa con trai đứng cạnh nàng, còn nhỏ chút xíu, hình như không hiểu gì cả. Nó mới chập chững biết đi, trông gầy gò, tội nghiệp chứ không đẹp trai như bố.
 

Khi huyệt được đào xong và linh cữu bắt đầu được hạ xuống, thì người góa phụ không còn ở trạng thái rũ liệt nữa. Hình như nàng cảm thấy rõ sự chia ly đang đến hồi chung quyết. Nàng vụt đứng dậy, khóc nức lên, rồi toan lao xuống huyệt. Mấy người thân phải cố gắng lắm mới giữ được nàng lại trên bờ hố sâu, và nàng đã lại xụm xuống như một khối thịt trong tay người chị gái. Cả người nàng chỉ còn là một chấn động thổn thức đớn đau. Đứa con vẫn đứng cạnh, nắm lấy tay mẹ, đôi mắt ngây thơ, ngơ ngác, tội nghiệp.
 

Và ngay vào giây phút đó, Tích cũng thấy hai tròng mắt mình mọng nước, sống mũi nồng cay. Chàng thương Lộc, thương người góa phụ trẻ, thương đứa con ngây thơ bây giờ đã trở nên côi cút mà vẫn chưa hiểu được chút gì về nỗi chia lìa, thương cái bào thai trong bụng mẹ chưa kịp nhìn thấy cha trước lúc chào đời. Cuộc chiến tranh này mỗi ngày đã lấy đi bao nhiêu người như thế? Đã có biết bao nhiêu cảnh vĩnh quyết như Tích đang chứng kiến hôm nay mà trước kia chàng chưa bao giờ chứng kiến và nhận thức đầy đủ? Tại sao đất nước này mà chàng vô cùng yêu mến lại phải khốn khó lâu dài đến thế? Người ta giết nhau vì cái gì? Vì tranh nhau hơn thua về một đường lối đưa con người đến hạnh phúc? Chua xót làm sao!


 

Linh cữu đã nằm yên dưới hố sâu, và bây giờ những nhát cuốc lại vang lên, những xẻng đất được quẳng xuống lấp mặt quan tài. Tích cầm một nắm đất quẳng xuống hố đang được lấp đầy, như gửi một lời chào từ biệt tiễn người ra đi. Rồi mặt đất bằng trở lại. Không còn nhìn thấy bóng hình anh đâu nữa. Anh đã nằm sâu trong lòng đất bao dung. Mọi người cúi đầu nghe vị cao tăng đọc bài chú. Tích cũng cúi đầu, và trong tiếng mõ vang lên đều đều và tiếng tụng kinh chậm rãi của vị hòa thượng, chàng thấy tâm trí xao động lên lời độc thoại của mình với người vừa nằm xuống.
 

“Anh Lộc, chắc anh không thể hiểu được rằng tôi quý mến anh và xúc động về cái chết của anh đến như thế nào. Chúng ta cùng chung một thế hệ, thế hệ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh. Thực tế chiến tranh đã là một phần của cuộc đời chúng ta, như cơm ăn áo mặc. Khi chúng ta đến tuổi ý thức, thì chiến tranh đã ngày càng mở rộng. Những người cùng chung một dòng máu đã lao vào cuộc chiến đấu mà không có thời giờ để suy nghĩ, nhận định. Tôi được may mắn hơn anh, vẫn còn ít nhiều đứng ngoài lề bom đạn. Còn anh thì sống với bom đạn hằng ngày, sống với những tàn bạo của lửa thù từng giây từng phút. Tôi chắc chắn một con người như anh không bao giờ có cái thú độc ác nhìn người khác khổ đau, chứ đừng nói đến tiêu diệt sự sống của họ. Vậy mà anh cũng chẳng làm gì khác được. Anh vẫn phải khoác vào người bộ quân phục, xông pha trong chốn lửa đạn, ở đó tàn sát đơn thuần là một bản năng tự vệ. Chắc chắn anh cũng đã có những giờ phút băn khoăn, thắc mắc về một thực tế tàn độc như thế. Chúng ta không hiểu tại sao cuộc chinh chiến này đã phải diễn ra trong cái tàn khốc như ở mức độ hiện nay. Chúng ta như người vào giữa bộ phim mà phần đầu không được coi nên không thể hiểu nguyên ủy câu chuyện. Điều độc địa là chúng ta không chỉ xem phim. Chúng ta đồng thời phải là những diễn viên bất đắc dĩ, nhưng vẫn phải gắng hết sức mình mà làm tròn nhiệm vụ để được tồn tại.
 

Hình như những người ở phía đối diện chúng ta không nghĩ như chúng ta. Họ suy nghĩ giản dị hơn nhiều, và có thể thấy họ tin tưởng tuyệt đối, gần như mù quáng, vào lý tưởng của họ. Họ đã có thể tiến hành và duy trì một cuộc chiến đấu dai dẳng và đầy gian khổ trong cả mấy chục năm trời, và tôi không nghi ngờ là họ còn có thể kéo dài thêm hai ba chục năm nữa, cho đến khi chúng ta phải chịu đầu hàng mới thôi. Với những con người như thế, và với những con người phía bên này như chúng ta, liệu chúng ta có thể kéo dài được trong bao lâu? Tôi có cảm tưởng chúng ta đang ở trong một cuộc đọ sức không cân xứng. Trong khi họ say sưa lý tưởng, thì chúng ta hoàn toàn bị động. Có lẽ chúng ta chiến đấu vì một ý thức mơ hồ nào đó về quyền tự do căn bản mà mỗi con người phải được hưởng để hoàn thành cuộc sống của mình cho có ý nghĩa. Nhưng đồng thời cái ý thức tự do đó của chúng ta đã bị trăm ngàn vạn triệu người lạm dụng, đã bị bao nhiêu nhà chính trị hoạt đầu mặc tình khuynh loát cho những mục tiêu vị kỷ của họ. Và rồi mặc ai nấy sống, con người cứ bị cuốn trôi theo dòng thác lũ, và hình như chúng ta mất đi phần nào tin tưởng vào cái mục đích cuối cùng mà chúng ta trân trọng. Chúng ta đành phó mặc cho những sự kiện của dòng đời mà chúng ta cảm thấy bất lực không kiểm soát nổi. Và chúng ta tạm quên đi những khắc khoải buồn phiền trong hạnh phúc nhỏ bé nơi tổ ấm gia đình. Rồi một ngày, cái chết ập đến với anh, và anh không hề được sửa soạn cho một sự thể như thế. Anh chết đi trong lúc lòng còn đầy ham muốn sống, trong khi người vợ trẻ với cái bào thai trong bụng và đứa con thơ còn cần anh như cần ánh sáng mặt trời.   
Như con đại bàng một sớm mai gãy cánh trên vùng trời mịt mù khói súng và ngùn ngụt hận thù của quê hương chúng ta, anh đã ngã xuống cho côn trùng rỉa rúc, và cái còn lại của anh là hình con đại bàng trên chóp mũ đại lễ và hai bên cầu vai của bức di ảnh. Và cái còn lại của anh trước mắt tôi ngay lúc này là dòng lệ chảy dài trên đôi má người góa phụ mang thai, là cái nhìn thất thần của đứa bé mới chập chững biết đi. Và cái còn lại vang vang bên tai tôi là khúc hát buồn não nuột mà tôi đã được nghe hoài hồi gần đây:
 

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ… (*)
 

Xin chào anh, một người chiến sĩ. Và xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Có lẽ đối với những người thân của anh, sự ra đi của anh là một sự mất mát phi lý và đau thương. Nhưng riêng đối với tôi, cái chết của anh mang đầy đủ ý nghĩa của một sự hy sinh cao đẹp cho những gì mà chúng ta hằng ấp ủ, nâng niu. Anh đã nằm xuống để những người còn sống sót như tôi có dịp suy ngẫm và chiêm nghiệm về cuộc sống, và nhắn nhủ chúng tôi về một sự tồn tại xứng đáng hơn trên cõi thế, về những nhiệm vụ phải cố gắng hoàn thành đối với những thế hệ đi sau chúng ta.”
 

(*) thơ Lê Thị Ý, nhạc Phạm Duy




Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.