Hôm nay,  

Niềm Vui Đầu Năm

02/01/202600:00:00(Xem: 642)

người già iStock-1410993224
Ảnh minh họa: istockphoto.com
 
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.

Nàng chọn giờ làm chiều Chúa Nhật hàng tuần, từ 4 giờ đến 8 giờ tối, công việc đơn giản nhẹ nhàng, phụ với Culinary staff chuẩn bị và phục vụ bữa tối.
 
Nhà Già này, có ba nhóm cư dân. Nhóm thứ nhất là những người còn khỏe mạnh, tự túc được mọi việc, họ chọn vào sinh sống ở Nhà Già để an hưởng tuổi già, không phiền bận con cái. Nhóm thứ hai, ở trên lầu một, là nhóm Assisted Living, là những người có chút bệnh của tuổi già, cần sự hỗ trợ của y tá và chuyên viên y tế trong chuyện ăn uống, theo dõi sức khỏe mỗi ngày. Nhóm cuối cùng, nhóm chăm sóc trí nhớ, dành cho những người bắt đầu hoặc đang bị vấn đề về trí nhớ, kèm theo các bệnh khác. Nhóm này, ở khu riêng biệt, cửa nẻo luôn đóng, chỉ có người có nhiệm vụ mới có thể vào, các cư dân cũng không thể tự tiện ra, vào như các cư dân của hai khu còn lại, ngoại trừ có người thân đến đón đưa hoặc y tá dẫn đi khi có việc cần.
 
Nàng làm ở khu các cư dân khỏe mạnh. Nàng đến nơi lúc 4 giờ chiều, dù giờ ăn bắt đầu lúc 4 giờ 30 chiều nhưng nhiều ông bà già rảnh rang đã lai rai kéo xuống phòng ăn. Có vài người tụ tập trước quầy bar, ngồi trên các ghế sofa tán gẫu chuyện mưa nắng và xem tin tức trên chiếc màn hình tivi, có vài người đến thẳng chỗ ngồi vào bàn, thảnh thơi lặng im, sẵn sàng đợi chờ bữa tối .
 
Nàng thích nhất thời gian này, khi nàng quanh quẩn ngoài phòng ăn, xem xét các bàn đã được setup đầy đủ ly, tách, muỗng nĩa, nước lọc, khăn giấy, trà và cafe, Nàng có dịp hỏi han, nói chuyện với ông này bà kia, những người có nhu cầu được nói, dù chỉ là những câu chuyện vẩn vơ không đầu không đuôi.
 
Từ thứ hai đến thứ bảy, bữa tối được phục vụ tận bàn cho cư dân. Riêng ngày chúa nhật, bữa tối được gọi là “Buffet and Pub Night”. Nhóm đầu bếp chuẩn bị thức ăn bên ngoài phòng ăn nơi có quầy dùng làm Buffet, các cư dân sẽ xếp hàng để tự lấy thức ăn, đem về bàn thưởng thức, dĩ nhiên, nếu có người nào “long thể bất an” thì có thể nhờ nhân viên lấy thức ăn giùm.

Sau bữa tối chúa nhật, đúng bảy giờ, phòng ăn sẽ được dọn dẹp gọn gàng, chừa một không gian rộng với nhiều chiếc ghế gần quầy bar, sẽ có một “one band man” đến chơi đàn guitar hoặc keyboard, ca hát giúp vui cho các cư dân có một cuối tuần vui vẻ.
 
Họ ngồi thưởng thức những bài hát theo yêu cầu, nhắc nhớ một thời kỷ niệm vàng son, có thể kêu chút rượu nếu không muốn uống trà hoặc cafe, nếu có hứng thì bước ra sàn nhún nhún theo điệu nhạc, cũng vui lắm.
 
Nàng thích thời gian “giải trí vui chơi” này, nhìn ngắm các ông bà già yêu đời theo lời ca tiếng nhạc, theo từng điệu nhảy, họ như trẻ ra, như những chàng trai thiếu nữ của những ngày ấy xa xôi.
 
Chủ nhật hôm ấy, mới sau Lễ Giáng Sinh, các ông bà già ai cũng hớn hở, có lẽ những ngày Lễ vừa qua đã được con, cháu đến thăm, hoặc đón về nhà chung vui  quây quần, nhận những món quà từ những người thân yêu . Nàng vừa bước vào chỗ làm, bà Ellen khoe liền:

-          Chiếc áo đầm này cô thấy đẹp không, con dâu tôi tặng đấy.

Ông Bryan tiến đến:

-          Còn đây chiếc mũ mới, con trai tôi lùng khắp thành phố để mua đúng chiếc tôi yêu thích đấy.

Bà Wendy hài hước ồn ào hơn:

-          Ối dào, mấy đứa cháu nội tưởng tôi còn sung sức nên cho tôi mấy chai rượu vang, đêm giao thừa sắp đến tôi phải… mở tiệc, chơi lớn luôn!
 
Cả buổi ă tối buffet hôm ấy, Nàng cũng vui theo những cư dân hạnh phúc này, những câu hỏi thăm về mùa Noel luôn là cảm hứng cho những câu chuyện bất tận.
 
Rồi đến giờ dọn dẹp cho đêm nhạc, lần này đặc biệt hơn, sẽ có thêm một người chơi keyboard bên cạnh “one man band” guitar vì là mùa Lễ, chuẩn bị đón Năm Mới.
 
Nàng vẫn theo thường lệ trách nhiệm của mình, đứng nơi bàn trà và cafe để phục vụ khi có yêu cầu. Ban nhạc, mỗi trước bài hát, thường có vài lời tâm tình, hỏi han các cư dân có biết bài này bài kia, có kỷ niệm gì thì chia sẻ, sau đó mới hát, có khi còn nhắc các cư dân hát theo, rồi vỗ tay.
 
Đến gần cuối giờ, vì chúa nhật tuần sau sẽ lố qua ngày đầu năm, nên tối nay mọi người sẽ cùng nhau “count down” đếm giờ đón mừng năm mới với ban nhạc. Nơi quầy bar đã có sẵn những chiếc mũ giấy sặc sỡ, những chiếc kèn giấy, và cả những túi confetti, khi đèn được tắt bớt đi, chỉ còn ánh đèn màu mờ ảo, ban nhạc chậm rãi nổi lên bài nhạc nổi tiếng của đêm giao thừa “Auld Lang Syne” cùng giọng ca trầm ấm của chàng “one man band”.
 
Cả phòng bỗng im lặng, không gian chùng xuống, hình như ai cũng thả hồn theo khoảnh khắc mỗi năm chỉ có một lần này, và nàng cũng thế. Nàng nhớ gia đình, tình thân ruột thịt, nhớ bạn bè của những mùa lễ đầu năm nơi quê nhà, nhớ tuổi thanh xuân, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn trào không thể ngăn lại. Khi bài nhạc kết thúc, tiếng “pháo hoa” rộn rã từ những chiếc kèn giấy, tiếng cười, chúc tụng ồn ào, bài hát khác nhộn nhịp bắt đầu, có vài ông bà già bước ra sàn nhảy, nàng sực tỉnh, tìm hộp khăn giấy, thì phía sau có tiếng hỏi nhẹ nhàng:

-          Cô có sao không? Tôi mời cô nhảy nhé!?

Nàng vẫn cúi đầu, bối rối lau nước mắt, vội vàng trả lời:

-          Không! Tôi không sao cả, cám ơn!

Có tiếng bước đi chậm rãi, Nàng quay ra nhìn, đó là bóng dáng của ông Joe đang từ từ chống gậy đi về phía thang máy nơi cuối hành lang.
 
Ruth, cô nhân viên làm chung, nói với nàng:

-          Hình như ông Joe buồn vì cô đã từ chối lời mời ra sàn nhảy của ông ấy!
 
Trời ơi, nào Nàng có để ý đến câu mời của ông Joe khi Nàng còn đang rối bời với bao cảm xúc buồn vui theo tiếng nhạc Auld Lang Syne (có ai nghe bài này mà không bâng khuâng?). Lòng nàng tràn ngập nỗi day dứt, vô tình nàng đã đem lại nỗi buồn cho ông Joe vào thời khắc của mùa cuối năm này. Bây giờ nàng có muốn mời ông nhảy cũng đã muộn rồi, ông vừa bước vào thang máy, trở về phòng.
 
Ruth nhìn nàng, mỉm cười:

-          Thôi cô đừng buồn, cô có cơ hội chuộc lỗi trong bữa tiệc “New Year” dành cho nhân viên vào tuần tới.
-          Ừ nhỉ! Tôi mới vào làm, nên chưa biết tiệc cũng có cư dân Nhà Già tham dự sao?
-          Tiệc cho chúng ta, nhưng có một số cư dân làm thiện nguyện, giúp dọn dẹp, đứng quầy bar, tặng quà, phục vụ chúng ta, có DJ chơi nhạc, và bất cứ cư dân nào muốn xuống chung vui cũng được, vui lắm, rồi cô sẽ thấy.
-          Vậy ông Joe trong nhóm thiện nguyện ư?
-          Mọi năm thì có, còn năm nay ông mới bị bong gân mắt cá chân vì hôm bữa giúp ông Terry kê lại cái sofa, ổng mang gậy cả tuần nay cô cũng biết mà, nhưng chắc chắn ông Joe sẽ xuống vì ổng hoạt bát và chưa bao giờ bỏ lỡ… cuộc vui nào!
 
Nàng nhẹ nhõm cõi lòng, vì Joe là một trong những cư dân Nàng thường chuyện trò và cảm mến nhất nơi Nhà Già. Tuổi trẻ của Joe rong ruổi khắp miền đồng bằng thảo nguyên của đất nước, với công việc kỹ sư Nông Nghiệp. Khi về hưu, hai vợ chồng Joe là thành viên hăng hái của Hiệp Hội Red Cross. Cách đây năm năm, vợ Joe qua đời, ông ở lại căn nhà nhỏ vẫn tiếp tục niềm vui thiện nguyện, rồi hai năm sau, hai người bạn thân của ông cũng rời xa ông: một người đi về bên kia thế giới, một người đi tiểu bang khác, nên ông quyết định dọn vào khu Nhà Già này, tìm thêm những người bạn mới chia sẻ buồn vui quãng đời còn lại.
 
Nhìn Joe nhanh nhẹn, khó ai đoán được trúng tuổi 85 của ông. Cao gầy, khỏe mạnh, Joe thường xuống ăn tối với chiếc quần Jeans và áo thun hoặc áo sơ mi ngắn tay gọn gàng, nói chuyện rôm rả, dí dỏm hài hước với tất cả mọi người, kể cả mấy bà già khó tính nhất trong Nhà Già cũng phải bật cười mỗi khi nghe Joe kể chuyện.
 
***
 
Ngày tiệc Năm Mới, vợ chồng Nàng đến sớm, hòa vào không khí nhộn nhịp, ngắm nghía không gian bữa tiệc đã được trang trí thật đẹp. Khán phòng đông đúc, Nàng chẳng thấy Joe đâu, Nàng tính đi ra cửa hỏi thăm bàn tiếp tân Nhà Già, nơi có theo dõi chi tiết mỗi ngày, cư dân nào đi đâu, với ai, có xuống ăn trưa ăn tối hay không, có bệnh hoạn vào bệnh viện hay ở tại phòng… thì may quá, Ruth xuất hiện giải tỏa thắc mắc cho Nàng với khuôn mặt đăm chiêu giùm Nàng:

-          Hồi trưa ông Joe được vợ chồng cô con gái đón về nhà ăn tối, không biết có quay về đây, hay sẽ ở qua đêm nhà con gái?
 
Nàng trở lại bàn, băn khoăn, coi như đêm nay không có dịp được chuộc lỗi với Joe. Bên ngoài tuyết đang rơi dày đặc, dự báo thời tiết cho biết nhiệt độ sẽ rất lạnh trong suốt tuần lễ, người trung niên như Nàng còn thấy ớn lạnh, huống chi những người già, chẳng ai muốn ra ngoài đường nếu không có việc cần thiết.

Giữa buổi tiệc, Nàng quay qua chồng:

-          Mình về thôi anh, đường xa trơn trợt lắm. Chắc ông Joe ở lại nhà con gái rồi!

Chồng nhìn Nàng, cảm thông:

-          Đành vậy! Lần tới em sẽ mời Joe nhảy sau bữa tối “Buffet and Pub Night”, cũng vẫn còn tháng 1, còn là New Year.
 
Nhưng kìa, Nàng nhìn ra ngoài khi cánh cửa ngoài bàn tiếp tân mở rộng, dáng cao gầy của Joe bước vào cùng vợ chồng cô con gái. Joe nở nụ cười tươi chào cô tiếp tân, vừa đứng giậm chân nơi tấm thảm để rũ bỏ những mảng tuyết còn bám trên đôi giày boots, cô con gái phụ bố cởi chiếc áo măng tô dày màu lông chuột, cậu con rể ôm Joe tạm biệt, rồi đôi vợ chồng bước ra khỏi cửa. Nàng sung sướng, rời bàn, chạy đến bắt tay Joe:

-          Happy New Year Joe! Tôi đợi ông nãy giờ, cứ tưởng ông không về tối nay!

Joe rạng rỡ cầm tay Nàng:

-          Tôi phải về chớ, dù con gái có nài nỉ tôi ở lại qua đêm, tôi nhớ mấy ông già bà già bạn của tôi, và nhớ mấy cô nhân viên dễ thương tốt bụng như cô nữa đấy.

Nàng nói vội vàng vì sợ Joe đổi đề tài:

-          Vậy tôi xin được mời ông nhảy nhé. Tôi xin lỗi vì tuần trước không nhảy với ông, khiến ông buồn…

Joe bật cười lớn:

-          Trời ơi! Tôi không buồn cô chút nào hết á! Cô biết không, từ khi vợ tôi mất, tôi thường có thói quen, là chiều cuối năm sẽ uống champagne một mình với…vợ và đón giao thừa với bả, nhưng hồi tuần rồi chưa phải chính thức giao thừa nên tôi mới ở lại chung vui, ai dè ban nhạc chơi bài Auld Lang Syne hay quá, làm tôi rưng rưng xúc động nhớ vợ, quay qua thấy cô đang khóc, chắc cô cũng nhớ kỷ niệm nào đó, nên tôi muốn chia sẻ an ủi, nhưng cô còn nức nở hơn, tôi đành bỏ về phòng tâm sự cùng…vợ vậy!
 
Nàng giúp Joe treo chiếc áo khoác trên móc áo ngoài phòng tiếp tân rồi kéo ông ra sàn nhảy, đúng lúc DJ chuyển qua điệu slow rock chậm rãi. Nàng và ông đứng đối diện nhau, nhún nhảy theo điệu nhạc giữa đám đông cũng đang nhịp nhàng theo từng bước nhảy. Ông Joe hôm nay mặc chiếc quần kaki màu đen, với chiếc áo thun tay dài màu bọc-đô, bỏ trong quần với dây thắt lưng đúng điệu, đúng màu sắc của Năm Mới, miệng cười liên tục, vừa nhảy vừa chào hỏi những người nhảy gần bên, rồi nháy mắt nhìn nàng như biểu nàng đừng ghi nhớ chuyện của tuần trước, hãy vui lên, năm mới mà!
 
Nàng cũng chợt nhận ra, ông Joe không còn mang gậy, vậy là chân của ông đã khỏi hẳn, không còn bong gân nữa!
 
Quả là một niềm vui đầu năm!
 
Edmonton, Tháng1/2026,
KIM LOAN 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Vuốt lại tấm khăn trải giường cho thẳng. Xoay chiếc gối cho ngay ngắn. Xong xuôi, hắn đứng thẳng người, nhìn chiếc giường kê sát vách tường. Có cái gì đó thật mảnh, như sợi chỉ, xuyên qua trái tim. Hắn vuốt nhẹ bàn tay lên mặt nệm. Cảm giác tê tê bám lên những đầu ngón tay. Nệm giường thẳng thớm, nhưng vết trũng chỗ nằm của một thân thể mềm mại vẫn hiện rõ trong trí. Hắn nuốt nước bọt, nhìn qua cái bàn nhỏ phía đầu giường. Một cuốn sách nằm ngay ngắn trên mặt bàn. Một tờ giấy cài phía trong đánh dấu chỗ đang đọc. Hắn xoay cuốn sách xem cái tựa. Tác phẩm dịch sang tiếng Việt của một nhà văn Pháp. Cái va li màu hồng nằm sát vách tường, phía chân giường. Hắn hít không khí căn phòng vào đầy lồng ngực. Thoáng hương lạ dịu dàng lan man khứu giác. Mùi hương rất quen, như mùi hương của tóc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.