Hôm nay,  

Niềm Vui Đầu Năm

02/01/202600:00:00(Xem: 640)

người già iStock-1410993224
Ảnh minh họa: istockphoto.com
 
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.

Nàng chọn giờ làm chiều Chúa Nhật hàng tuần, từ 4 giờ đến 8 giờ tối, công việc đơn giản nhẹ nhàng, phụ với Culinary staff chuẩn bị và phục vụ bữa tối.
 
Nhà Già này, có ba nhóm cư dân. Nhóm thứ nhất là những người còn khỏe mạnh, tự túc được mọi việc, họ chọn vào sinh sống ở Nhà Già để an hưởng tuổi già, không phiền bận con cái. Nhóm thứ hai, ở trên lầu một, là nhóm Assisted Living, là những người có chút bệnh của tuổi già, cần sự hỗ trợ của y tá và chuyên viên y tế trong chuyện ăn uống, theo dõi sức khỏe mỗi ngày. Nhóm cuối cùng, nhóm chăm sóc trí nhớ, dành cho những người bắt đầu hoặc đang bị vấn đề về trí nhớ, kèm theo các bệnh khác. Nhóm này, ở khu riêng biệt, cửa nẻo luôn đóng, chỉ có người có nhiệm vụ mới có thể vào, các cư dân cũng không thể tự tiện ra, vào như các cư dân của hai khu còn lại, ngoại trừ có người thân đến đón đưa hoặc y tá dẫn đi khi có việc cần.
 
Nàng làm ở khu các cư dân khỏe mạnh. Nàng đến nơi lúc 4 giờ chiều, dù giờ ăn bắt đầu lúc 4 giờ 30 chiều nhưng nhiều ông bà già rảnh rang đã lai rai kéo xuống phòng ăn. Có vài người tụ tập trước quầy bar, ngồi trên các ghế sofa tán gẫu chuyện mưa nắng và xem tin tức trên chiếc màn hình tivi, có vài người đến thẳng chỗ ngồi vào bàn, thảnh thơi lặng im, sẵn sàng đợi chờ bữa tối .
 
Nàng thích nhất thời gian này, khi nàng quanh quẩn ngoài phòng ăn, xem xét các bàn đã được setup đầy đủ ly, tách, muỗng nĩa, nước lọc, khăn giấy, trà và cafe, Nàng có dịp hỏi han, nói chuyện với ông này bà kia, những người có nhu cầu được nói, dù chỉ là những câu chuyện vẩn vơ không đầu không đuôi.
 
Từ thứ hai đến thứ bảy, bữa tối được phục vụ tận bàn cho cư dân. Riêng ngày chúa nhật, bữa tối được gọi là “Buffet and Pub Night”. Nhóm đầu bếp chuẩn bị thức ăn bên ngoài phòng ăn nơi có quầy dùng làm Buffet, các cư dân sẽ xếp hàng để tự lấy thức ăn, đem về bàn thưởng thức, dĩ nhiên, nếu có người nào “long thể bất an” thì có thể nhờ nhân viên lấy thức ăn giùm.

Sau bữa tối chúa nhật, đúng bảy giờ, phòng ăn sẽ được dọn dẹp gọn gàng, chừa một không gian rộng với nhiều chiếc ghế gần quầy bar, sẽ có một “one band man” đến chơi đàn guitar hoặc keyboard, ca hát giúp vui cho các cư dân có một cuối tuần vui vẻ.
 
Họ ngồi thưởng thức những bài hát theo yêu cầu, nhắc nhớ một thời kỷ niệm vàng son, có thể kêu chút rượu nếu không muốn uống trà hoặc cafe, nếu có hứng thì bước ra sàn nhún nhún theo điệu nhạc, cũng vui lắm.
 
Nàng thích thời gian “giải trí vui chơi” này, nhìn ngắm các ông bà già yêu đời theo lời ca tiếng nhạc, theo từng điệu nhảy, họ như trẻ ra, như những chàng trai thiếu nữ của những ngày ấy xa xôi.
 
Chủ nhật hôm ấy, mới sau Lễ Giáng Sinh, các ông bà già ai cũng hớn hở, có lẽ những ngày Lễ vừa qua đã được con, cháu đến thăm, hoặc đón về nhà chung vui  quây quần, nhận những món quà từ những người thân yêu . Nàng vừa bước vào chỗ làm, bà Ellen khoe liền:

-          Chiếc áo đầm này cô thấy đẹp không, con dâu tôi tặng đấy.

Ông Bryan tiến đến:

-          Còn đây chiếc mũ mới, con trai tôi lùng khắp thành phố để mua đúng chiếc tôi yêu thích đấy.

Bà Wendy hài hước ồn ào hơn:

-          Ối dào, mấy đứa cháu nội tưởng tôi còn sung sức nên cho tôi mấy chai rượu vang, đêm giao thừa sắp đến tôi phải… mở tiệc, chơi lớn luôn!
 
Cả buổi ă tối buffet hôm ấy, Nàng cũng vui theo những cư dân hạnh phúc này, những câu hỏi thăm về mùa Noel luôn là cảm hứng cho những câu chuyện bất tận.
 
Rồi đến giờ dọn dẹp cho đêm nhạc, lần này đặc biệt hơn, sẽ có thêm một người chơi keyboard bên cạnh “one man band” guitar vì là mùa Lễ, chuẩn bị đón Năm Mới.
 
Nàng vẫn theo thường lệ trách nhiệm của mình, đứng nơi bàn trà và cafe để phục vụ khi có yêu cầu. Ban nhạc, mỗi trước bài hát, thường có vài lời tâm tình, hỏi han các cư dân có biết bài này bài kia, có kỷ niệm gì thì chia sẻ, sau đó mới hát, có khi còn nhắc các cư dân hát theo, rồi vỗ tay.
 
Đến gần cuối giờ, vì chúa nhật tuần sau sẽ lố qua ngày đầu năm, nên tối nay mọi người sẽ cùng nhau “count down” đếm giờ đón mừng năm mới với ban nhạc. Nơi quầy bar đã có sẵn những chiếc mũ giấy sặc sỡ, những chiếc kèn giấy, và cả những túi confetti, khi đèn được tắt bớt đi, chỉ còn ánh đèn màu mờ ảo, ban nhạc chậm rãi nổi lên bài nhạc nổi tiếng của đêm giao thừa “Auld Lang Syne” cùng giọng ca trầm ấm của chàng “one man band”.
 
Cả phòng bỗng im lặng, không gian chùng xuống, hình như ai cũng thả hồn theo khoảnh khắc mỗi năm chỉ có một lần này, và nàng cũng thế. Nàng nhớ gia đình, tình thân ruột thịt, nhớ bạn bè của những mùa lễ đầu năm nơi quê nhà, nhớ tuổi thanh xuân, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn trào không thể ngăn lại. Khi bài nhạc kết thúc, tiếng “pháo hoa” rộn rã từ những chiếc kèn giấy, tiếng cười, chúc tụng ồn ào, bài hát khác nhộn nhịp bắt đầu, có vài ông bà già bước ra sàn nhảy, nàng sực tỉnh, tìm hộp khăn giấy, thì phía sau có tiếng hỏi nhẹ nhàng:

-          Cô có sao không? Tôi mời cô nhảy nhé!?

Nàng vẫn cúi đầu, bối rối lau nước mắt, vội vàng trả lời:

-          Không! Tôi không sao cả, cám ơn!

Có tiếng bước đi chậm rãi, Nàng quay ra nhìn, đó là bóng dáng của ông Joe đang từ từ chống gậy đi về phía thang máy nơi cuối hành lang.
 
Ruth, cô nhân viên làm chung, nói với nàng:

-          Hình như ông Joe buồn vì cô đã từ chối lời mời ra sàn nhảy của ông ấy!
 
Trời ơi, nào Nàng có để ý đến câu mời của ông Joe khi Nàng còn đang rối bời với bao cảm xúc buồn vui theo tiếng nhạc Auld Lang Syne (có ai nghe bài này mà không bâng khuâng?). Lòng nàng tràn ngập nỗi day dứt, vô tình nàng đã đem lại nỗi buồn cho ông Joe vào thời khắc của mùa cuối năm này. Bây giờ nàng có muốn mời ông nhảy cũng đã muộn rồi, ông vừa bước vào thang máy, trở về phòng.
 
Ruth nhìn nàng, mỉm cười:

-          Thôi cô đừng buồn, cô có cơ hội chuộc lỗi trong bữa tiệc “New Year” dành cho nhân viên vào tuần tới.
-          Ừ nhỉ! Tôi mới vào làm, nên chưa biết tiệc cũng có cư dân Nhà Già tham dự sao?
-          Tiệc cho chúng ta, nhưng có một số cư dân làm thiện nguyện, giúp dọn dẹp, đứng quầy bar, tặng quà, phục vụ chúng ta, có DJ chơi nhạc, và bất cứ cư dân nào muốn xuống chung vui cũng được, vui lắm, rồi cô sẽ thấy.
-          Vậy ông Joe trong nhóm thiện nguyện ư?
-          Mọi năm thì có, còn năm nay ông mới bị bong gân mắt cá chân vì hôm bữa giúp ông Terry kê lại cái sofa, ổng mang gậy cả tuần nay cô cũng biết mà, nhưng chắc chắn ông Joe sẽ xuống vì ổng hoạt bát và chưa bao giờ bỏ lỡ… cuộc vui nào!
 
Nàng nhẹ nhõm cõi lòng, vì Joe là một trong những cư dân Nàng thường chuyện trò và cảm mến nhất nơi Nhà Già. Tuổi trẻ của Joe rong ruổi khắp miền đồng bằng thảo nguyên của đất nước, với công việc kỹ sư Nông Nghiệp. Khi về hưu, hai vợ chồng Joe là thành viên hăng hái của Hiệp Hội Red Cross. Cách đây năm năm, vợ Joe qua đời, ông ở lại căn nhà nhỏ vẫn tiếp tục niềm vui thiện nguyện, rồi hai năm sau, hai người bạn thân của ông cũng rời xa ông: một người đi về bên kia thế giới, một người đi tiểu bang khác, nên ông quyết định dọn vào khu Nhà Già này, tìm thêm những người bạn mới chia sẻ buồn vui quãng đời còn lại.
 
Nhìn Joe nhanh nhẹn, khó ai đoán được trúng tuổi 85 của ông. Cao gầy, khỏe mạnh, Joe thường xuống ăn tối với chiếc quần Jeans và áo thun hoặc áo sơ mi ngắn tay gọn gàng, nói chuyện rôm rả, dí dỏm hài hước với tất cả mọi người, kể cả mấy bà già khó tính nhất trong Nhà Già cũng phải bật cười mỗi khi nghe Joe kể chuyện.
 
***
 
Ngày tiệc Năm Mới, vợ chồng Nàng đến sớm, hòa vào không khí nhộn nhịp, ngắm nghía không gian bữa tiệc đã được trang trí thật đẹp. Khán phòng đông đúc, Nàng chẳng thấy Joe đâu, Nàng tính đi ra cửa hỏi thăm bàn tiếp tân Nhà Già, nơi có theo dõi chi tiết mỗi ngày, cư dân nào đi đâu, với ai, có xuống ăn trưa ăn tối hay không, có bệnh hoạn vào bệnh viện hay ở tại phòng… thì may quá, Ruth xuất hiện giải tỏa thắc mắc cho Nàng với khuôn mặt đăm chiêu giùm Nàng:

-          Hồi trưa ông Joe được vợ chồng cô con gái đón về nhà ăn tối, không biết có quay về đây, hay sẽ ở qua đêm nhà con gái?
 
Nàng trở lại bàn, băn khoăn, coi như đêm nay không có dịp được chuộc lỗi với Joe. Bên ngoài tuyết đang rơi dày đặc, dự báo thời tiết cho biết nhiệt độ sẽ rất lạnh trong suốt tuần lễ, người trung niên như Nàng còn thấy ớn lạnh, huống chi những người già, chẳng ai muốn ra ngoài đường nếu không có việc cần thiết.

Giữa buổi tiệc, Nàng quay qua chồng:

-          Mình về thôi anh, đường xa trơn trợt lắm. Chắc ông Joe ở lại nhà con gái rồi!

Chồng nhìn Nàng, cảm thông:

-          Đành vậy! Lần tới em sẽ mời Joe nhảy sau bữa tối “Buffet and Pub Night”, cũng vẫn còn tháng 1, còn là New Year.
 
Nhưng kìa, Nàng nhìn ra ngoài khi cánh cửa ngoài bàn tiếp tân mở rộng, dáng cao gầy của Joe bước vào cùng vợ chồng cô con gái. Joe nở nụ cười tươi chào cô tiếp tân, vừa đứng giậm chân nơi tấm thảm để rũ bỏ những mảng tuyết còn bám trên đôi giày boots, cô con gái phụ bố cởi chiếc áo măng tô dày màu lông chuột, cậu con rể ôm Joe tạm biệt, rồi đôi vợ chồng bước ra khỏi cửa. Nàng sung sướng, rời bàn, chạy đến bắt tay Joe:

-          Happy New Year Joe! Tôi đợi ông nãy giờ, cứ tưởng ông không về tối nay!

Joe rạng rỡ cầm tay Nàng:

-          Tôi phải về chớ, dù con gái có nài nỉ tôi ở lại qua đêm, tôi nhớ mấy ông già bà già bạn của tôi, và nhớ mấy cô nhân viên dễ thương tốt bụng như cô nữa đấy.

Nàng nói vội vàng vì sợ Joe đổi đề tài:

-          Vậy tôi xin được mời ông nhảy nhé. Tôi xin lỗi vì tuần trước không nhảy với ông, khiến ông buồn…

Joe bật cười lớn:

-          Trời ơi! Tôi không buồn cô chút nào hết á! Cô biết không, từ khi vợ tôi mất, tôi thường có thói quen, là chiều cuối năm sẽ uống champagne một mình với…vợ và đón giao thừa với bả, nhưng hồi tuần rồi chưa phải chính thức giao thừa nên tôi mới ở lại chung vui, ai dè ban nhạc chơi bài Auld Lang Syne hay quá, làm tôi rưng rưng xúc động nhớ vợ, quay qua thấy cô đang khóc, chắc cô cũng nhớ kỷ niệm nào đó, nên tôi muốn chia sẻ an ủi, nhưng cô còn nức nở hơn, tôi đành bỏ về phòng tâm sự cùng…vợ vậy!
 
Nàng giúp Joe treo chiếc áo khoác trên móc áo ngoài phòng tiếp tân rồi kéo ông ra sàn nhảy, đúng lúc DJ chuyển qua điệu slow rock chậm rãi. Nàng và ông đứng đối diện nhau, nhún nhảy theo điệu nhạc giữa đám đông cũng đang nhịp nhàng theo từng bước nhảy. Ông Joe hôm nay mặc chiếc quần kaki màu đen, với chiếc áo thun tay dài màu bọc-đô, bỏ trong quần với dây thắt lưng đúng điệu, đúng màu sắc của Năm Mới, miệng cười liên tục, vừa nhảy vừa chào hỏi những người nhảy gần bên, rồi nháy mắt nhìn nàng như biểu nàng đừng ghi nhớ chuyện của tuần trước, hãy vui lên, năm mới mà!
 
Nàng cũng chợt nhận ra, ông Joe không còn mang gậy, vậy là chân của ông đã khỏi hẳn, không còn bong gân nữa!
 
Quả là một niềm vui đầu năm!
 
Edmonton, Tháng1/2026,
KIM LOAN 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.