Hôm nay,  

Mưu Thật và… Thuyết Âm Mưu

04/09/202423:02:00(Xem: 2012)

iStock-1411957789
Hình từ istockphoto.com

 

Ngày bầu cử Mỹ càng tới gần, chúng ta càng bị những nhà lập thuyết âm mưu (conspiracy theorist) quấy rầy mà trong đó, tuồng chèo nhất, là ông Donald Trump.

Thường thì mỗi lần ông ta gặp một khó khăn, bất lợi, sẽ có ít nhất một thuyết âm mưu lớn hay nhỏ ra đời. Thí dụ như rắc rối pháp lý trong vụ án “hush money” với cách bào chữa mà, theo các luật gia, trông rất… đần (dump). [1] Trump cấm các luật sư biện hộ thừa nhận rằng mình ngoại tình. Trump buộc họ phải bào chữa bằng cách diễn tả vụ án như là một…. âm mưu chính trị của đối thủ Joe Biden chỉ để bị bồi thẩm đoàn bác bỏ thẳng tay, đúng như tiên đoán của giới luật gia.

Nhưng để hiểu sâu hơn thì tốt nhất là bỏ ông ta qua một bên để phân tích vấn đề như một hiện tượng phổ quát, toàn cầu. Mà, như thực tế cho thấy, bất cứ biến cố gây chấn động nào cũng đều trở thành cái nôi của những “thuyết âm mưu” với bóng dáng của các “thế lực” vô hình không ai thấy được.

Có nhiều lý do giải thích. Có thể đó là trò phản tuyên truyền hay tâm lý chiến để lèo lái dư luận nhằm bảo vệ cái gì đó hay chống lại cái gì đó, có thể là một cá nhân, một thế lực hay một hệ thống kinh tài - chính trị. Cũng có thể là do người ta chỉ đơn thuần muốn chứng tỏ ta đây thông minh, có cái nhìn xa, hơn người. Và có thể đó -- nói như Johann Hari trong bài “Diana, Osama and the rise of conspiracy theories” đăng trên tờ The Independent (11/6/ 2006) -- là những ẩn ức về đức tin. Khi người ta tin vào sự chi phối vào sự kiểm soát toàn vẹn của đấng toàn năng thì bất cứ biến cố nào đi chệch ra khỏi tầm kiểm soát đó cũng bị giới này diễn dịch như là kết quả của những âm mưu tạo phản, phá phách.

Thuyết âm mưu, như thế, chỉ hình thành từ định kiến, từ nỗi sợ hay sự hoang tưởng nên chẳng thể nào bộc lộ tinh thần thực chứng hay logic và, do đó, trên phương diện phương pháp luận, lại nhất quán nhau ở sự lẩn quẩn, lòng vòng.

Đầu tiên là lập luận lòng vòng -- circular reasoning, circle in proving hay circular logic -- là lối ngụy biện sử dụng luận đề chứng minh cho kết luận, rồi từ kết luận suy ra… luận đề, trong rất vô lý, nực cười. Đây là lối lý luận kiểu A là sự thật vì B là sự thật, B là sự thật vì A là… sự thật. Cụ thể hơn: các thế lực thù địch phản động không bao giờ từ bỏ tư tưởng chống lại chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là tiến bộ, là hòa hợp nên mới bị các thế lực thù địch phản động chống tới cùng!

Lập luận lòng vòng thì “tư liệu” cũng lòng vòng theo, cái lối trích dẫn mà người Anh gọi là circular reference: A đưa ra một sự việc nào đó, bảo là B nói, như là bằng chứng; nhưng hỏi B thì B bảo C nói; đến hỏi C thì C bảo là nghe… A nói.

 

Cụ thể hơn, hãy điểm qua những “thuyết âm mưu” vào hàng… kinh điển.

Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v.

 

Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.

 

Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 cũng đẻ ra đủ thuyết âm mưu. Tại thế giới Ả Rập thì đó là màn kịch nhằm bôi nhọ và tạo cớ tấn công của bọn tà đạo Mỹ. Tại Tây phương thì đó là trò dàn dựng của thế lực siêu bảo thủ nhằm vỗ béo kỹ nghệ chiến tranh và, trong đó, đặc biệt nhất là thuyết của David Shayler, thành viên nòng cốt của “The 9/11 Truth Movement”. Với Shayler thì làm gì có chuyện hai máy bay hành khách đâm vào tháp đôi ở New York? Đó chỉ là hai phi đạn đạn đạo gắn các máy phóng ảnh ba chiều để tạo nên ảo ảnh về một chiếc máy bay.

 

Ai có thể tin nổi một cái “thuyết” này? Nếu chấp nhận giả thuyết “máy bay ảo” này thì chúng ta biết đặt oan hồn của những nạn nhân cùng nỗi đau của những thân nhân của họ đi đâu? Nhà “lý thuyết âm mưu” Shayler, như thế, đã vứt bỏ những một núi những bằng chứng cụ thể như chính cái cuộc đời này để thay vào đó mấy lời biện giải nhẹ tênh, chập chờn như một ảo ảnh.

 

Trại tập trung Auschwitz vẫn được chính phủ Ba Lan gìn giữ như một chứng tích rành rẽ về tội ác diệt chủng của Adolf Hitler thế nhưng đến bây giờ những “Holocaust doubters” vẫn khư khư rằng đó chỉ là trò bịp của những kẻ ủng hộ cho “chủ nghĩa Zion”. Tại Anh thì bất kể những kết quả điều tra, những môn đồ của các trường phái lý thuyết âm mưu vẫn tiếp tục lải nhải về bàn tay của Hoàng gia Anh đằng sau cái chết của Diana Spenser bởi họ không thể chấp nhận cái nỗi nhục khi cô con dâu của mình bỏ chồng đi lấy một gã đàn ông Hồi giáo.

Nhưng đáng chú ý nhất là các trận dịch, từ cổ chí kim, trận nào cũng làm nảy sinh ra những “thuyết âm mưu” kinh khủng.

 

Đại dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại là “Cái Chết Đen” do bệnh dịch hạch vào thế kỷ 14, với 200 triệu người thiệt mạng tại Âu, Á và Phi. Dịch bùng phát tại tỉnh Hà Bắc rồi lan ra khắp Trung Quốc, sau đó theo “Con đường tơ lụa” truyền sang vùng Trung Á và Địa Trung Hải.  Các sử liệu cho thấy rằng, chỉ trong 20 năm, Trung Quốc đã mất một phần ba dân số: năm 1200 thì dân số là 124 triệu, nhưng năm 1393 chỉ còn có 65 triệu. Trong khi đó thì tại Âu châu, dịch đã triệt hạ một phần ba dân số.

 

Trận dịch này đã khiến bao vị linh mục thời đó lúng túng khi con chiên thắc mắc: nếu Đấng Tối Cao chi phối tất cả, sắp đặt tất cả thì Ngài nỡ lòng nào buông tay để trận dịch kinh khủng này xảy ra? Thắc mắc này lại dẫn đến thuyết âm mưu nhằm đổ tội lên đầu người Do Thái, theo đó thì cái “quân giết Chúa” này đã cho thuốc độc vào các giếng nước để kiểm soát thế giới nhằm rộng đường sinh tồn cho mình. Thế là Chủ nghĩa bài Do Thái rộ lên khắp cõi châu Âu, khiến người Do Thái bị tàn sát, cướp bóc và đánh đuổi không thương tiếc.

 

Một đại dịch khác là cúm Tây Ban Nha, bùng phát ngay khi Đệ nhất thế chiến kết thúc vào năm 1918, kéo dài đến năm 1920, đoạt mạng từ 25 đến 50 triệu người, cao hơn con số người thiệt mạng trong chiến tranh. Điều đặc biệt ở đại dịch này là hầu hết những nạn nhân là ở trong độ tuổi sung mãn, từ 20 đến 40 và khiến nam giới có nguy cơ mắc bệnh và tử vong hơn là nữ giới. Số người tử vong ở châu Á và châu Phi được ghi nhận cao hơn châu Âu, Bắc Mỹ và châu Úc và sự phát sinh virus này vẫn là một điều bí ẩn và, cho đến những năm 1930, nhiều người vẫn tin rằng quân đội Đức đã tạo ra mầm bệnh và sử dụng nó như là một vũ khí.

 

Thuyết âm mưu còn ra đời với mục đích tuyên truyền, đánh lạc hướng công chúng. Năm 1950, dịch bệnh bọ cánh bùng lên tại Đông Đức, huỷ hoại toàn bộ vụ mùa khoai tây và bộ máy tuyên truyền Đông Đức cũ đã mau mắn kết tội Mỹ: không phải đảng ta dở, mà đó là do Mỹ phá hoại.

 

Thập niên 1980, khi bệnh AIDS bắt đầu xuất hiện thì những thông tin sai lệch lại nổi lên. Năm 1983, Cục tình báo Liên Xô (KGB) cáo buộc Mỹ đã phát triển AIDS tại pháo đài Detrick để sử dụng làm vũ khí sinh học rồi thử nghiệm đối với các tù binh, các nhóm người thiểu số và những người đồng tính. KGB này còn tung tin là Mỹ đã cố tình đánh lạc hướng dư luận với tuyên bố căn bệnh này xuất phát từ Phi châu. Đến giữa thập niên 1990 khi Liên Xô sụp đổ, cơ quan y tế các quốc gia phần lớn đã kiểm soát được căn bệnh AIDS thì châu Phi lại bùng phát dịch bệnh Ebola. Vậy là thuyết âm mưu về bệnh AIDS trước đây lại được tái chế, theo đó virus Ebola là vũ khí sinh học do Mỹ hay Anh chế tạo.

 

Gần đây nhất là thuyết về dịch bệnh Covid 19, nở rộ và lan truyền rất nhanh hơn nhờ vào Internet rồi trở thành đề tài tranh cãi giữa hai siêu cường Mỹ - Tàu.

 

Ngày 12/3/2020 – một ngày sau khi nguyên Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Robert O'Brien chỉ trích Trung Quốc phản ứng chậm chạp, làm thế giới mất đi hai tháng chuẩn bị -- Triệu Lập Kiên (Zhao Li Jian) – nguyên phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc -- ỡm ờ tuyên bố trên mạng xã hội: “Biết đâu chính quân đội Mỹ đã mang dịch Covid-19 đến Vũ Hán”. Triệu đưa ra hàng loạt câu hỏi: “Bệnh nhân số 0 ở Mỹ là ai? Có bao nhiêu người bị nhiễm SARS-CoV-2? Tên của các bệnh viện là gì? Biết đâu chính quân đội Mỹ đã mang dịch Covid -19 đến Vũ Hán?”

 

Trước đó, cuối tháng Hai năm 2020, chuyên gia dịch tễ hàng đầu của Trung Quốc là Chung Nam Sơn (Zhong Nanshan), còn tuyên bố lập lờ: “Dù Covid-19 được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc, nhưng điều đó không có nghĩa là nó có nguồn gốc từ Trung Quốc.”

 

Nhưng thực tế thì vẫn có những âm mưu nung nấu về một trận dịch như vậy nhưng trái ngược với chủ ý mà Chung hay Triệu muốn “mớm”. Âm mưu này đã để lộ trong bài diễn văn của nguyên Phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc Trì Hạo Điền (Chi Haotien) tại “Hội nghị các tướng lĩnh bàn về chiến lược cho tương lai” vào tháng 12 năm 2005. Đây là hội nghị mật với những tham luận “phổ biến nội bộ” nên mãi bốn năm sau, ngày 26/4/2009, mới bị lộ ra ngoài trên và khiến chính giới Mỹ báo động. [2]

 

Tại hội nghị Trì nhấn mạnh rằng Trung Quốc là chủng tộc siêu đẳng nhất, có sứ mệnh quét sạch nước Mỹ để làm bá chủ thế giới, để làm như vậy thì cách thức giản tiện nhất là sử dụng vũ khí sinh học và nếu cần thì có thể tàn bạo hơn cả Hitler để tìm kiếm không gian sinh tốn. Trì tuyên bố:

 

“Chỉ các nước như Mỹ, Canada và Úc là có đất đai rộng lớn đủ để thoả mãn cho nhu cầu thuộc địa lớn lao của chúng ta. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề nước Mỹ là vấn đề căn bản để giải quyết tất cả những vấn đề khác. Trước hết, việc này làm chúng ta có thể có điều kiện đưa nhiều di dân sang Mỹ và ngay cả thiết lập một nước Trung Hoa khác dưới cùng sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Hoa. […]

 

Trong lịch sử, khi một nước đánh bại một nước khác hay xâm chiếm một nước khác, nó không thể tàn sát toàn bộ dân số trong nước bị xâm lăng vì thời đó các anh không thể giết nhiều như thế bằng kiếm hay bằng giáo mác, thậm chí cả bằng súng tiểu liên hay súng đại liên. Vì vậy, không thể chiếm cứ một vùng đất mà không giữ dân chúng của vùng đất đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta chinh phục Mỹ bằng cách này, chúng ta không thể đưa nhiều người của chúng ta di dân tới Mỹ được.

[...]

 

Chỉ có những vũ khí không hủy diệt nhưng có thể giết càng nhiều người càng tốt mới giúp chúng ta giữ lại được nước Mỹ để mà khai thác. Đã có những phát triển nhanh chóng về kỹ thuật sinh học hiện đại, và những vũ khí sinh học loại mới được tiếp tục phát minh, cái này tiếp nối kia. Dĩ nhiên chúng ta đã không ngồi yên; trong những năm qua, chúng ta đã nắm bắt nhiều cơ hội để làm chủ những loại vũ khí sinh hóa này. Chúng ta có khả năng đạt được mục đích của chúng ta trong việc ‘quét sạch’ nước Mỹ một cách bất ngờ. [….] Các vũ khí sinh học chưa hề được sử dụng cho nên chưa ai thấy sự tàn độc của chúng. Nhưng nếu Mỹ không chết thì người Trung Quốc phải chết. Nếu người Trung Quốc bị mắc kẹt trong vùng đất Trung Quốc hiện nay thì hậu quả trong tương lai gần là một sự sụp đổ xã hội toàn diện.”

 

Sẽ không bao giờ đủ nếu phải nói cho hết những “mưu” có thật và những “thuyết” hoang đường để tuyên truyền của Bắc Kinh nên, thôi, thử quay về với… tông chi họ hàng của nó, ở Hà Nội.

 

Đây cũng là hang ổ của những nhà chế tác thuyết âm mưu thế nhưng nếu như, với người, mỗi sự biến làm nảy sinh một thuyết âm mưu thì, ở đây, suốt mấy chục năm qua, chỉ thấy nhai đi nhai lại mỗi một âm mưu của “thế lực thù địch phản động” như là lý do để bóp họng nhân dân và bóp cổ những người bất đồng chính kiến. Nếu mới nhất, qua đội ngũ dư luận viên, là “âm mưu cách mạng màu” của Đại học Fullbright thì, nếu được bật đèn xanh tiếp, cũng chỉ để gán ghép đại học này như là công cụ của “thế lực thù địch phản động” vậy thôi.

 

Như đã nói, thuyết âm mưu thường phát sinh từ sự run sợ trước những biến cố chấn động thì, ở đây, những “âm mưu” ấy cũng ra đời như thế khi giới đặc quyền hoang mang trước sự lỗi thời của bộ máy cai trị đã mất hết tính chính danh. Mà đã lỗi thời, đã bất chính danh rồi thì tiếng nói cũng không thể không lỗi thời, không thể không bất chính danh theo, toàn những luận điểm cũ rích, những lập luận cù nhầy, nhai đi nhai lại, trên những bài xã luận chính thống, và trên cả mồm mép luận viên.

 
Nguyễn Hoàng Văn

Tham khảo:

 

  1. https://www.msn.com/en-au/news/other/hush-money-trial-lawyers-are-using-a-defense-too-dumb-for-even-the-trump-base-analyst/ar-BB1lUrrE?cvid=97aee37a57e3428da687642f28dfefcd&ei=60
  2. https://jrnyquist.blog/2019/09/11/the-secret-speech-of-general-chi-haotian/comment-page-1/

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.