Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Và Khuôn Mẫu Học Sinh Việt Nam* Tại Québec

27/05/202011:22:00(Xem: 873)

 

*Học sinh thuộc gia đình thuyền nhân định cư tại Québec từ 1975 đến 1981.

Nguyen thuong chanh 01GIA ĐÌNH NGUYỄN T CHÁNH VÀ NGUYỄN N LAN –LEAMSING REFUGEE CAMP-THAILAND-MARS 1980

Nguyen thuong chanh 02CẢNH SỐNG CHẬT VẬT CỦA GIA ĐÌNH  CHÁNH VÀ NGOC LAN (LƯNG QUAY VÔ BẾP), 5 NĂM ĐẦU 1980 1985 TẠI MONTREAL-CẢ CHA MẸ VÀ 2 ĐỨA CON ĐỀU PHẢI ĐI HỌC,

Học sinh, sinh viên Việt Nam thường được tiếng chuyên cần và học giỏi nên thầy cô và học sinh gia trắng thường gán cho các cháu một số khuôn mẫu (Stéréotypes).

Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình. Các con cần phải cố gắng học, học và học…
Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.

                       

****Chanh Nguyen Thuong se fait communicateur auprès de la communauté vietnamienne

Par Rhonda Wilson, Affaires publiques

                                               http://www.advite.com/ChanhNguyen.htm

 

Nguyen thuong chanh 03Nhờ những bài viết cho cộng đồng VN tại Canada phổ biến kiến thức vệ sinh ăn uống, đồng thời cũng là sợi dây liên lạc của cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) với cộng đồng VN, GS Nguyễn Thượng Chánh (K5) được trao tặng giải thưởng Presidential Prize, Community Services tai cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) tai Ottawa, Nov 2000. Các người trong hình là President, Vice presidents personnel và program của CFIA.

 Dr. Thuong Chanh Nguyen

Quebec Area, Operations Branch

Dr. Nguyen has done a considerable amount of work with the Vietnamese community in Quebec to increase the community's awareness of food safety and consumer protection issues. Dr. Nguyen has written a number of articles directed at the Vietnamese community, which have appeared in Quebec publications and pertain to issues such as hamburger disease and other food-borne illnesses and the important of respecting federal laws to protect Canada's natural resources and agri-food industry.

He has received letters of congratulation from his superiors for his role in educating this community and increasing its awareness of the role the CFIA plays in protecting consumers.

Dr. Nguyen's work has enabled the CFIA to reach out and educate the Vietnamese people of Quebec, increasing their awareness of important health issues.

 Nguyen thuong chanh 04

                                                                  
  ****

Đây là bài phỏng dịch dịch tóm tắt tác phẩm: Tầm quan trọng của giáo dục và “khuôn mẫu của học sinh Việt nam giỏi”-  Tác giả Methot Caroline(1995).

(Univ laval, Québec.được thực hiện qua việc nghiên cứu thăm dò trên một số con em thuyền nhân Việt Nam đến Quebec từ 1975 -1981. )

1-L’importance de l’éducation et stéréotype du « bon élève » vietnamien

http://redtac.org/asiedusudest/test/le-vietnam/societe/stereotypes/

METHOT, Caroline (1995). Du Viet-Nam au Québec : la valse des identités, Québec, Institut québécoise de recherche sur la culture, Coll. « Edmond-de-Nevers », n° 13, 224 pages.

 

Tác phẩm đã được Gs Louis Jacques Dorais, Univ Laval (nhân chủng-xã hôi học) duyệt xét và đánh giá cao.

2-Ouvrage récensé par Louis Jacques Dorais

https://www.erudit.org/revue/cgq/1997/v41/n112/022628ar.pdf

 

 

   Video: La réussite scolaire de la communité vietnamienne
http://www.youtube.com/watch?v=rZZLLUQPfSo 

                                                                            

Các khuôn mẫu thường hay gặp

 

Nguyen Thuong Chanh 04 (2)Học sinh Vn rất căng thẳng trong giờ thi(Des petits vietnamiens très stressés pour leur examen…(Photo https://sites.google.com/site/pol3401vietnam/societe/mythe-du-bon-eleve

 

Video: Collège Jean Eudes Montréal.(Một trong vài trường trung học tư tại Montreal)

http://www.jeaneudes.qc.ca/video

 

Ở trường, học sinh Việt nam thường bị ghép vào những khuôn mẫu (stéréotypes) như:

 

1)-“Người Vn, tất cả các anh chị đều là những “cái đầu” (ám chỉ siêng năng, cần mẫn, “gạo”, học giỏi)- bolles là tiếng lóng (slang) của người québecois để ám chỉ những học sinh siêng năng, học giỏi… Không biết có phải là biến thoái từ chữ Pháp boules (cái đầu) chăng?

 

À l’école, les élèves vietnamiens sont souvent stéréotypés ainsi :

1- "[V]ous autres les Vietnamiens, vous êtes tous des bolles."

 

2)-Người Việt lúc nào cũng chỉ có học và học, họ là những “cái đầu” to lớn (grosses bolles)

2- "Les Vietnamiens étudient tout le temps, c’est des grosses bolles."

 

Devine le sens de l’expression «c’est une bolle»?

Cela ressemble beaucoup à être une boule. En France, le mot boule est souvent synonyme de tête. Donc, je déduis qu’une bolle, c’est quelqu’un qui réussit facilement à l’école.

Bien vu, même si le mot bolle n’est pas une déformation du mot boule. Mais être une bolle en québécois signifie effectivement être doué pour les études, être très intelligent.

http://www.dufrancaisaufrancais.com/dis-en-quebecois-tu-dis-en-francais-ecole/

 

3) À, đúng rồi, là Việt nam, thì các bạn phải có điểm cao.

3-"Ah oui, mais vous autres vous êtes Vietnamiens vous avez des bonnes notes."

 

4)À, người ta biết tại sao người Việt học giỏi ở trường, bởi vì họ chỉ biết làm có một việc mà thôi. Đó là học, học, học. và học.

4-"Ah, on sait pourquoi les Vietnamiens sont bons à l’école, c’est parce que tout ce qu’ils font, c’est étudier."

 

5)Người Việt nam là những “cái đầu”, họ thông minh, biết lắng nghe giáo sư, đi ngủ sớm, và lúc nào họ cũng học, học và  học.

 5-"Les Vietnamiens sont des bolles, ils sont intelligents, ils écoutent les profs, ils dorment tôt, ils étudient tout le temps."

 

Người ta tưởng lầm rằng sự thành công là do nguồn gốc sắc tộc quyết định nhờ vậy các em học sinh Việt nam có được những thành tích vẻ vang.., (Méthot 1995, p122, 126). Kể cả luôn giới giáo sư cũng duy trì ý tưởng về khuôn mẫu đối với học sinh Vn. “Rất hiếm thấy họ bàn luận những gì khác hơn ngoài chuyện học hành của học sinh gốc Á châu” và qua một cách thức nào đó họ làm lan truyền “huyền thoại lạ thường về thành tích của học sinh Việt nam”. Rất nhiều em học sinh Vn rất sợ bị gán cho những định kiến trên.(Méthot, 1995, p.122) Họ tỏ ra rất bối rối mỗi khi bị gán vào khuôn mẫu nêu trên. Đúng vậy, các em học sinh Vn cố gắng hết mình trong trường nhưng không phải là tất cả mọi người đều đạt được thành tích học vấn vẻ vang hết đâu

 

Comme si l’origine ethnique est la raison du succès, les Vietnamiens sont étiquetés en fonction de leurs performances scolaires (Méthot 1995, p. 122, 126). Même les professeurs entretiennent ces stéréotypes. Ils « parleraient rarement de sujets autres que scolaires aux élèves asiatiques » et propagent d’une certaine façon ces stéréotypes du « mythe des qualités intellectuels extraordinaires des Viet ». Beaucoup d’élèves vietnamiens ont peur de ces préjugés (Méthot 1995, p. 122) et se sentent très mal à l’aise lorsqu’ils sont ainsi désignés. Certes, ils s’efforcent beaucoup pour bien performer à l’école, mais ce n’est pas tout le monde qui performe tous dans l’excellence scolaire.

Như các bạn đã biết, đối với người Việt, gia đình có một giá trị quan trọng nhất, nhưng bạn có hiểu là giáo dục, học vấn cũng là một giá trị gia đình không? Minh và Quan, cả hai cháu đều ở lớp tuổi 20 và đã đến Québec khi còn bé, Hai cháu đã nói như sau:  “Đối với cha mẹ tôi, không nên đi chơi quá thường xuyên,và cần phải dành thì giờ để học hành.Thứ bảy học,chúa nhật học và trong mùa hè cũng cần phải học, ôn bài vở trước cho mùa tựu trường năm tới”.

Trong gia đình tôi, học hành là việc quan trọng đứng hàng đầu. Đối với pa má tôi, việc quan trọng nhứt  là con cái phải thành công trong học vấn. ”(Méthot 1995.p 120)

 

Vous savez déjà que la famille est la valeur la plus importante pour les Vietnamiens, mais savez-vous que l’éducation et les études constituent aussi une valeur familiale? Minh et Quan, tous deux dans la vingtaine et sont arrivés au Québec quand ils étaient encore jeunes enfants, témoignent ainsi :

« Pour mes parents, il faut pas sortir trop souvent et puis il faut étudier la plupart du temps. Le samedi étudier, le dimanche étudier et durant l’été il faut réviser ses notes pour la prochaine année. »

« Dans ma famille, les études c’est la première chose qui est importance, Pour les parents, la chose la plus importante c’est que leurs enfants réussissent leurs études. » (Méthot 1995, p. 120).

 

Phần đông gia đình Việt nam định cư trong thành phố đã rời bỏ quê hương của họ trong những bối cảnh vô cùng bi thảm (Thuyền nhân).Họ đã bỏ lại tất cả sau lưng. Đối với mọi gia đình VN, học vấn là một đảm bảo cho tương lai tốt đẹp và cho sự cải tiến số phận trong cuộc đời. Thành công trong học vấn cũng có nghĩa là thăng tiến lên trong các bậc thang xã hội, cho sự hội nhập, cũng như đạt được sự kính nễ. Cha mẹ VN thường thúc đẩy mạnh mẽ con cái trong việc học hành, bắt các cháu phải nổ lực cố gắng thật nhiều trong việc học tập vì theo họ “thành công của con cái trong học vấn là danh dự chung cho  cả gia đình” (Méthot 1995, p.158)

 

La très grande majorité des familles vietnamiennes immigrées dans la ville ont quitté le Vietnam dans des conditions catastrophiques (boat people). Ils ont tous laissé, ou presque, derrière eux. Pour ces familles, l’éducation est une garantie pour améliorer leur sort de vie. La réussite des études signifie élévation sociale, intégration et respectabilité. Bien souvent, les parents poussent fortement les enfants à fournir des efforts considérables dans les études, car « l’honneur de la famille repose sur la réussie des enfants » (Méthot 1995, p. 158).

 

Coi trọng sự thành công trong học vấn và “tôn thờ” bằng cấp là những di sản văn hóa có từ thời khổng giáo bành trướng tại Việt nam vào thế kỷ thứ 15. Bị thúc đẩy theo chiều  hướng quan trọng hóa việc học hành, các học sinh Việt nam luôn luôn ấp ủ khát vọng của cha mẹ chúng. Các em không phải là những thiên tài nhỏ nhưng họ chỉ “học chết bỏ” hay “gạo” tối đa mà thôi. (“Gạo” là danh từ 50 -60 năm về trước, học sinh miền Nam thường sử dụng để chỉ những ai quá siêng học, cả ngày lẫn đêm…) (Méthot 1995, p.124)

 Cette valorisation du succès scolaire et vénération du diplôme sont des héritages culturels depuis la ‘confucianisation’ du pays au 15e siècle. Poussés dans vers la direction de l’importance des études, les enfants vietnamiens intériorisent en eux le désir de leurs parents. Les Vietnamiens ne sont pas des « petits génies », mais simplement ils « bûch[ent] plus » aux études (Méthot 1995, p. 124).

 

Đối với các cháu quá siêng học, thành tích và áp lực thường đi đôi với nhau. Việc học hành chiếm hầu hết thời gian, nên phần giải trí phải chịu mất mát đi rất nhiều.(Méthot 1995, p125).

Pour ces Vietnamiens, performance et pression vont de pairs. Les heures consacrées aux études sont nombreuses, et, bien souvent le temps des loisirs est du temps perdu (Méthot 1995, p. 125).

 

Học sinh Vn tự họ tạo áp lức đối với chính họ. Đó là phải hết sức cố gắng trong việc học hành, và ngoài ra họ còn phải chịu áp lực từ phía cha mẹ, từ người xung quanh và cả từ phía cộng đồng Vn.

 Ils se mettent beaucoup de la pression sur eux-mêmes pour les études, mais se font aussi mettre de la pression par-dessus les épaules par les parents, par l’entourage et par la même par  communauté vietnamienne.

 

Phải đạt được một vài thành tích nào đó. Rất gây go. Quá nhiều áp lực…tôi nói thật, làm người Vn không phải là dễ đâu vì bạn phải chịu đựng quá nhiều áp lực của xã hội…người ta đòi hỏi mình quá nhiều. (Méthot 1995, page 125-126)

« Il faut avoir une certaine performance. C’est très exigeant. C’est beaucoup de pression… je vous dis franchement, être Vietnamien, c’est tought, parce que tu as beaucoup de pressions de la société vietnamienne […] ils t’en demandent beaucoup, là », dit Bao (18 ans) (Méthot 1995, p. 125-126)

 

Thúc đẩy phía sau bởi cha mẹ, áp lực từ cộng đồng và còn bị gán ghép vào khuôn mẫu bởi bạn bè và thầy cô ở trường nữa.  Học sinh Vn đôi khi cảm thấy quá nặng nề những hy vọng, những mong đợi của gia đình muốn họ phải thăng tiến trong đời sống. Tất cả đều nằm trong cái cartable của mình. (Méthot 1995, p,159)

Poussés par les parents à la maison, pressés par la communauté et stéréotypés par ses pairs et ses professeurs à l’école, l’enfant vietnamien trouve parfois très lourd que tous les espoirs de sa famille pour accéder à une meilleur vie reposent sur son cartable (Méthot 1995, p. 159).

 

Vậy, làm ơn ngưng ngay việc  tin tưởng rằng các em  học sinh Vn đều là những “thiên tài nhỏ”! Họ chỉ biết cố sức học để có được kết quả tốt mà thôi. Sự thành công của họ không phải đã được xếp đặt và xác định sẵn trong gènes đâu.

Ainsi, s’il vous plaît, cessez de croire que tous les Vietnamiens sont des « petits génies »! Ils ne font seulement que travailler pour obtenir des résultats et que la réussite scolaire ne sont pas codées dans leurs gènes!

Nguyen thuong chanh 05DR NGUYEN THUONG CHANH, DMV 1981-85-UNIVERSITÉ DE MONTREAL

 

 

Nguyen thuong chanh 06.jpgDRE NGUYỄN NGỌC LAN CHÂU MD-GRADUATION 2005

UNIVERSITÉ DE MONTREAL.

Tham khảo

-J Louis Dorais- Identités vietnamienne au Quebec

http://www.erudit.org/revue/RS/2004/v45/n1/009235ar.html

-Người Việt tị nạn tại Montréal

https://vietbao.com/a234938/nguoi-viet-ti-nan-tai-montreal

- LÚA ĐÃ ĐƠM BÔNG TRÊN MIỀN ĐẤT HỨA

https://vietbao.com/a234836/niem-tu-hao-cua-nguoi-viet-ti-nan-lua-da-dom-bong-tren-mien-dat-hua

-Video: Hội nhập của người Việt tị nạn cộng sản ngay sau năm 1975 tại quận 13 Paris
http://www.dailymotion.com/video/xfczg9_les-vietnamiens_news
- Đài Á Châu Tự do RFA-Người Việt ở Montreal, Canada
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese_community_in_Montreal_Canada_HYen-07072008164355.html

 

 

MONTREAL  MAY 2020  MÙA ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU  COVID 19

HẾT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.