Hôm nay,  

Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Và Khuôn Mẫu Học Sinh Việt Nam* Tại Québec

27/05/202011:22:00(Xem: 16642)

 

*Học sinh thuộc gia đình thuyền nhân định cư tại Québec từ 1975 đến 1981.

Nguyen thuong chanh 01GIA ĐÌNH NGUYỄN T CHÁNH VÀ NGUYỄN N LAN –LEAMSING REFUGEE CAMP-THAILAND-MARS 1980

Nguyen thuong chanh 02CẢNH SỐNG CHẬT VẬT CỦA GIA ĐÌNH  CHÁNH VÀ NGOC LAN (LƯNG QUAY VÔ BẾP), 5 NĂM ĐẦU 1980 1985 TẠI MONTREAL-CẢ CHA MẸ VÀ 2 ĐỨA CON ĐỀU PHẢI ĐI HỌC,

Học sinh, sinh viên Việt Nam thường được tiếng chuyên cần và học giỏi nên thầy cô và học sinh gia trắng thường gán cho các cháu một số khuôn mẫu (Stéréotypes).

Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình. Các con cần phải cố gắng học, học và học…
Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.

                       

****Chanh Nguyen Thuong se fait communicateur auprès de la communauté vietnamienne

Par Rhonda Wilson, Affaires publiques

                                               http://www.advite.com/ChanhNguyen.htm

 

Nguyen thuong chanh 03Nhờ những bài viết cho cộng đồng VN tại Canada phổ biến kiến thức vệ sinh ăn uống, đồng thời cũng là sợi dây liên lạc của cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) với cộng đồng VN, GS Nguyễn Thượng Chánh (K5) được trao tặng giải thưởng Presidential Prize, Community Services tai cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) tai Ottawa, Nov 2000. Các người trong hình là President, Vice presidents personnel và program của CFIA.

 Dr. Thuong Chanh Nguyen

Quebec Area, Operations Branch

Dr. Nguyen has done a considerable amount of work with the Vietnamese community in Quebec to increase the community's awareness of food safety and consumer protection issues. Dr. Nguyen has written a number of articles directed at the Vietnamese community, which have appeared in Quebec publications and pertain to issues such as hamburger disease and other food-borne illnesses and the important of respecting federal laws to protect Canada's natural resources and agri-food industry.

He has received letters of congratulation from his superiors for his role in educating this community and increasing its awareness of the role the CFIA plays in protecting consumers.

Dr. Nguyen's work has enabled the CFIA to reach out and educate the Vietnamese people of Quebec, increasing their awareness of important health issues.

 Nguyen thuong chanh 04

                                                                  
  ****

Đây là bài phỏng dịch dịch tóm tắt tác phẩm: Tầm quan trọng của giáo dục và “khuôn mẫu của học sinh Việt nam giỏi”-  Tác giả Methot Caroline(1995).

(Univ laval, Québec.được thực hiện qua việc nghiên cứu thăm dò trên một số con em thuyền nhân Việt Nam đến Quebec từ 1975 -1981. )

1-L’importance de l’éducation et stéréotype du « bon élève » vietnamien

http://redtac.org/asiedusudest/test/le-vietnam/societe/stereotypes/

METHOT, Caroline (1995). Du Viet-Nam au Québec : la valse des identités, Québec, Institut québécoise de recherche sur la culture, Coll. « Edmond-de-Nevers », n° 13, 224 pages.

 

Tác phẩm đã được Gs Louis Jacques Dorais, Univ Laval (nhân chủng-xã hôi học) duyệt xét và đánh giá cao.

2-Ouvrage récensé par Louis Jacques Dorais

https://www.erudit.org/revue/cgq/1997/v41/n112/022628ar.pdf

 

 

   Video: La réussite scolaire de la communité vietnamienne
http://www.youtube.com/watch?v=rZZLLUQPfSo 

                                                                            

Các khuôn mẫu thường hay gặp

 

Nguyen Thuong Chanh 04 (2)Học sinh Vn rất căng thẳng trong giờ thi(Des petits vietnamiens très stressés pour leur examen…(Photo https://sites.google.com/site/pol3401vietnam/societe/mythe-du-bon-eleve

 

Video: Collège Jean Eudes Montréal.(Một trong vài trường trung học tư tại Montreal)

http://www.jeaneudes.qc.ca/video

 

Ở trường, học sinh Việt nam thường bị ghép vào những khuôn mẫu (stéréotypes) như:

 

1)-“Người Vn, tất cả các anh chị đều là những “cái đầu” (ám chỉ siêng năng, cần mẫn, “gạo”, học giỏi)- bolles là tiếng lóng (slang) của người québecois để ám chỉ những học sinh siêng năng, học giỏi… Không biết có phải là biến thoái từ chữ Pháp boules (cái đầu) chăng?

 

À l’école, les élèves vietnamiens sont souvent stéréotypés ainsi :

1- "[V]ous autres les Vietnamiens, vous êtes tous des bolles."

 

2)-Người Việt lúc nào cũng chỉ có học và học, họ là những “cái đầu” to lớn (grosses bolles)

2- "Les Vietnamiens étudient tout le temps, c’est des grosses bolles."

 

Devine le sens de l’expression «c’est une bolle»?

Cela ressemble beaucoup à être une boule. En France, le mot boule est souvent synonyme de tête. Donc, je déduis qu’une bolle, c’est quelqu’un qui réussit facilement à l’école.

Bien vu, même si le mot bolle n’est pas une déformation du mot boule. Mais être une bolle en québécois signifie effectivement être doué pour les études, être très intelligent.

http://www.dufrancaisaufrancais.com/dis-en-quebecois-tu-dis-en-francais-ecole/

 

3) À, đúng rồi, là Việt nam, thì các bạn phải có điểm cao.

3-"Ah oui, mais vous autres vous êtes Vietnamiens vous avez des bonnes notes."

 

4)À, người ta biết tại sao người Việt học giỏi ở trường, bởi vì họ chỉ biết làm có một việc mà thôi. Đó là học, học, học. và học.

4-"Ah, on sait pourquoi les Vietnamiens sont bons à l’école, c’est parce que tout ce qu’ils font, c’est étudier."

 

5)Người Việt nam là những “cái đầu”, họ thông minh, biết lắng nghe giáo sư, đi ngủ sớm, và lúc nào họ cũng học, học và  học.

 5-"Les Vietnamiens sont des bolles, ils sont intelligents, ils écoutent les profs, ils dorment tôt, ils étudient tout le temps."

 

Người ta tưởng lầm rằng sự thành công là do nguồn gốc sắc tộc quyết định nhờ vậy các em học sinh Việt nam có được những thành tích vẻ vang.., (Méthot 1995, p122, 126). Kể cả luôn giới giáo sư cũng duy trì ý tưởng về khuôn mẫu đối với học sinh Vn. “Rất hiếm thấy họ bàn luận những gì khác hơn ngoài chuyện học hành của học sinh gốc Á châu” và qua một cách thức nào đó họ làm lan truyền “huyền thoại lạ thường về thành tích của học sinh Việt nam”. Rất nhiều em học sinh Vn rất sợ bị gán cho những định kiến trên.(Méthot, 1995, p.122) Họ tỏ ra rất bối rối mỗi khi bị gán vào khuôn mẫu nêu trên. Đúng vậy, các em học sinh Vn cố gắng hết mình trong trường nhưng không phải là tất cả mọi người đều đạt được thành tích học vấn vẻ vang hết đâu

 

Comme si l’origine ethnique est la raison du succès, les Vietnamiens sont étiquetés en fonction de leurs performances scolaires (Méthot 1995, p. 122, 126). Même les professeurs entretiennent ces stéréotypes. Ils « parleraient rarement de sujets autres que scolaires aux élèves asiatiques » et propagent d’une certaine façon ces stéréotypes du « mythe des qualités intellectuels extraordinaires des Viet ». Beaucoup d’élèves vietnamiens ont peur de ces préjugés (Méthot 1995, p. 122) et se sentent très mal à l’aise lorsqu’ils sont ainsi désignés. Certes, ils s’efforcent beaucoup pour bien performer à l’école, mais ce n’est pas tout le monde qui performe tous dans l’excellence scolaire.

Như các bạn đã biết, đối với người Việt, gia đình có một giá trị quan trọng nhất, nhưng bạn có hiểu là giáo dục, học vấn cũng là một giá trị gia đình không? Minh và Quan, cả hai cháu đều ở lớp tuổi 20 và đã đến Québec khi còn bé, Hai cháu đã nói như sau:  “Đối với cha mẹ tôi, không nên đi chơi quá thường xuyên,và cần phải dành thì giờ để học hành.Thứ bảy học,chúa nhật học và trong mùa hè cũng cần phải học, ôn bài vở trước cho mùa tựu trường năm tới”.

Trong gia đình tôi, học hành là việc quan trọng đứng hàng đầu. Đối với pa má tôi, việc quan trọng nhứt  là con cái phải thành công trong học vấn. ”(Méthot 1995.p 120)

 

Vous savez déjà que la famille est la valeur la plus importante pour les Vietnamiens, mais savez-vous que l’éducation et les études constituent aussi une valeur familiale? Minh et Quan, tous deux dans la vingtaine et sont arrivés au Québec quand ils étaient encore jeunes enfants, témoignent ainsi :

« Pour mes parents, il faut pas sortir trop souvent et puis il faut étudier la plupart du temps. Le samedi étudier, le dimanche étudier et durant l’été il faut réviser ses notes pour la prochaine année. »

« Dans ma famille, les études c’est la première chose qui est importance, Pour les parents, la chose la plus importante c’est que leurs enfants réussissent leurs études. » (Méthot 1995, p. 120).

 

Phần đông gia đình Việt nam định cư trong thành phố đã rời bỏ quê hương của họ trong những bối cảnh vô cùng bi thảm (Thuyền nhân).Họ đã bỏ lại tất cả sau lưng. Đối với mọi gia đình VN, học vấn là một đảm bảo cho tương lai tốt đẹp và cho sự cải tiến số phận trong cuộc đời. Thành công trong học vấn cũng có nghĩa là thăng tiến lên trong các bậc thang xã hội, cho sự hội nhập, cũng như đạt được sự kính nễ. Cha mẹ VN thường thúc đẩy mạnh mẽ con cái trong việc học hành, bắt các cháu phải nổ lực cố gắng thật nhiều trong việc học tập vì theo họ “thành công của con cái trong học vấn là danh dự chung cho  cả gia đình” (Méthot 1995, p.158)

 

La très grande majorité des familles vietnamiennes immigrées dans la ville ont quitté le Vietnam dans des conditions catastrophiques (boat people). Ils ont tous laissé, ou presque, derrière eux. Pour ces familles, l’éducation est une garantie pour améliorer leur sort de vie. La réussite des études signifie élévation sociale, intégration et respectabilité. Bien souvent, les parents poussent fortement les enfants à fournir des efforts considérables dans les études, car « l’honneur de la famille repose sur la réussie des enfants » (Méthot 1995, p. 158).

 

Coi trọng sự thành công trong học vấn và “tôn thờ” bằng cấp là những di sản văn hóa có từ thời khổng giáo bành trướng tại Việt nam vào thế kỷ thứ 15. Bị thúc đẩy theo chiều  hướng quan trọng hóa việc học hành, các học sinh Việt nam luôn luôn ấp ủ khát vọng của cha mẹ chúng. Các em không phải là những thiên tài nhỏ nhưng họ chỉ “học chết bỏ” hay “gạo” tối đa mà thôi. (“Gạo” là danh từ 50 -60 năm về trước, học sinh miền Nam thường sử dụng để chỉ những ai quá siêng học, cả ngày lẫn đêm…) (Méthot 1995, p.124)

 Cette valorisation du succès scolaire et vénération du diplôme sont des héritages culturels depuis la ‘confucianisation’ du pays au 15e siècle. Poussés dans vers la direction de l’importance des études, les enfants vietnamiens intériorisent en eux le désir de leurs parents. Les Vietnamiens ne sont pas des « petits génies », mais simplement ils « bûch[ent] plus » aux études (Méthot 1995, p. 124).

 

Đối với các cháu quá siêng học, thành tích và áp lực thường đi đôi với nhau. Việc học hành chiếm hầu hết thời gian, nên phần giải trí phải chịu mất mát đi rất nhiều.(Méthot 1995, p125).

Pour ces Vietnamiens, performance et pression vont de pairs. Les heures consacrées aux études sont nombreuses, et, bien souvent le temps des loisirs est du temps perdu (Méthot 1995, p. 125).

 

Học sinh Vn tự họ tạo áp lức đối với chính họ. Đó là phải hết sức cố gắng trong việc học hành, và ngoài ra họ còn phải chịu áp lực từ phía cha mẹ, từ người xung quanh và cả từ phía cộng đồng Vn.

 Ils se mettent beaucoup de la pression sur eux-mêmes pour les études, mais se font aussi mettre de la pression par-dessus les épaules par les parents, par l’entourage et par la même par  communauté vietnamienne.

 

Phải đạt được một vài thành tích nào đó. Rất gây go. Quá nhiều áp lực…tôi nói thật, làm người Vn không phải là dễ đâu vì bạn phải chịu đựng quá nhiều áp lực của xã hội…người ta đòi hỏi mình quá nhiều. (Méthot 1995, page 125-126)

« Il faut avoir une certaine performance. C’est très exigeant. C’est beaucoup de pression… je vous dis franchement, être Vietnamien, c’est tought, parce que tu as beaucoup de pressions de la société vietnamienne […] ils t’en demandent beaucoup, là », dit Bao (18 ans) (Méthot 1995, p. 125-126)

 

Thúc đẩy phía sau bởi cha mẹ, áp lực từ cộng đồng và còn bị gán ghép vào khuôn mẫu bởi bạn bè và thầy cô ở trường nữa.  Học sinh Vn đôi khi cảm thấy quá nặng nề những hy vọng, những mong đợi của gia đình muốn họ phải thăng tiến trong đời sống. Tất cả đều nằm trong cái cartable của mình. (Méthot 1995, p,159)

Poussés par les parents à la maison, pressés par la communauté et stéréotypés par ses pairs et ses professeurs à l’école, l’enfant vietnamien trouve parfois très lourd que tous les espoirs de sa famille pour accéder à une meilleur vie reposent sur son cartable (Méthot 1995, p. 159).

 

Vậy, làm ơn ngưng ngay việc  tin tưởng rằng các em  học sinh Vn đều là những “thiên tài nhỏ”! Họ chỉ biết cố sức học để có được kết quả tốt mà thôi. Sự thành công của họ không phải đã được xếp đặt và xác định sẵn trong gènes đâu.

Ainsi, s’il vous plaît, cessez de croire que tous les Vietnamiens sont des « petits génies »! Ils ne font seulement que travailler pour obtenir des résultats et que la réussite scolaire ne sont pas codées dans leurs gènes!

Nguyen thuong chanh 05DR NGUYEN THUONG CHANH, DMV 1981-85-UNIVERSITÉ DE MONTREAL

 

 

Nguyen thuong chanh 06.jpgDRE NGUYỄN NGỌC LAN CHÂU MD-GRADUATION 2005

UNIVERSITÉ DE MONTREAL.

Tham khảo

-J Louis Dorais- Identités vietnamienne au Quebec

http://www.erudit.org/revue/RS/2004/v45/n1/009235ar.html

-Người Việt tị nạn tại Montréal

https://vietbao.com/a234938/nguoi-viet-ti-nan-tai-montreal

- LÚA ĐÃ ĐƠM BÔNG TRÊN MIỀN ĐẤT HỨA

https://vietbao.com/a234836/niem-tu-hao-cua-nguoi-viet-ti-nan-lua-da-dom-bong-tren-mien-dat-hua

-Video: Hội nhập của người Việt tị nạn cộng sản ngay sau năm 1975 tại quận 13 Paris
http://www.dailymotion.com/video/xfczg9_les-vietnamiens_news
- Đài Á Châu Tự do RFA-Người Việt ở Montreal, Canada
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese_community_in_Montreal_Canada_HYen-07072008164355.html

 

 

MONTREAL  MAY 2020  MÙA ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU  COVID 19

HẾT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn. Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,
Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên. “Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích. Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.Cùng với những người khác - không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại. “Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles.
Chuyện đời của Tổng thống Donald Trump như một cuốn sách, không phải tự truyện, không phải tiểu sử, là một trường thiên tiểu thuyết đang viết vào chương cuối cùng. Đã gọi là tiểu thuyết, nghĩa là không thật như đời thường, có nhiều diễn biến ly kỳ, bí mật và những âm thầm giấu giếm bên trong. Nhân vật chính là một người có đời sống phóng đảng từ trẻ đến già. Con nhà giàu, đẹp trai, học không giỏi. Bảy mươi mấy năm sống có thể gôm vào sáu chữ: Ham gái. Ham danh. Ham tiền. Ông không có khả năng gì đặc biệt, ngoài trừ khả năng bạo phổi, quen thói tỷ phú quyền lực, ít học, kém tư cách, ông muốn nói gì thì nói, muốn tuyên bố gì thì tuyên bố, bất kể đúng sai, bất kể hậu quả. Việc này khiến ông nổi bật giữa những kiểu mẫu đứng đắn, đạo hạnh, tử tế, trí thức của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dọc theo lịch sử. Sự phá vỡ tư cách lãnh đạo theo truyền thống, lạ lùng, được một số đông cử tri ủng hộ.
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy. Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.
Trong tháng 7 năm 2025, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gần như hoàn toàn theo đường lối đảng phái để hủy bỏ khoản ngân sách trị giá 1.1 tỷ MK đã được chuẩn thuận cấp cho Tập Đoàn Phát Thanh Truyền Hình Công Cộng (Corporation for Public Broadcasting, CPB). Những người ủng hộ quyết định này cho rằng đây là hành động cần thiết để ngừng tài trợ cho “cánh truyền thông thiên tả.” “Phát thanh truyền hình công cộng đã rơi vào tay các nhà hoạt động đảng phái từ lâu rồi,” TNS Ted Cruz (Texas) tuyên bố, khẳng định chính phủ không cần thiết phải tài trợ cho các cơ quan báo chí “thiếu công tâm.” Ông châm biếm: “Muốn xem tuyên truyền của phe cấp tiến hả, cứ bật MSNBC đi.”
Tổng thống Donald Trump đã cố gắng áp đặt Hoa Kỳ lên thế giới và tách đất nước ra khỏi thế giới. Ông bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai bằng cách vung vũ lực cứng của Mỹ, đe dọa Đan Mạch về quyền kiểm soát Greenland, và đề nghị sẽ giành lại kênh đào Panama. Ông đã sử dụng thành công các mối đe dọa về thuế quan trừng phạt để ép buộc Canada, Colombia và Mexico về các vấn đề nhập cư. Ông đã rút khỏi các hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới. Vào tháng 4, ông đã khiến thị trường toàn cầu rơi vào hỗn loạn bằng cách công bố thuế quan sâu rộng đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Không lâu sau đó, ông đã thay đổi chiến thuật bằng cách rút lại hầu hết các mức thuế bổ sung, mặc dù vẫn tiếp tục gây sức ép cho một cuộc thương chiến với Trung Quốc – mặt trận chủ yếu trong cuộc tấn công hiện nay để chống lại đối thủ chính của Washington...
Tài liệu ghi chép lịch sử Tòa Bạch Ốc cho biết, khi nhân viên dưới thời chính quyền của Woodrow Wilson chuẩn bị dời vị trí của Vườn Hồng, họ nhìn thấy hồn ma của cố Đệ Nhất Phu Nhân Dolley Madison, phu nhân của cố Tổng thống đời thứ tư của Mỹ James Madison. Thế là, để “xoa dịu” bà Madison, họ quyết định không di dời nữa và Vườn Hồng ở nơi đó cho đến tận bây giờ. Ông Jeremiah Jerry Smith làm việc trong Toà Bạch Ốc dưới thời của chính quyền Tổng Thống Ulysses S. Grant vào cuối những năm 1860. Trong suốt 35 năm, ông là một người hầu, quản gia, đầu bếp, gác cửa, dọn dẹp văn phòng. Smith là người được các ký giả, người viết sách tìm đến khi họ muốn biết về tin tức hoặc chuyện hậu cung. Theo tài liệu lịch sử của White House, ông Smith nói từng nhìn thấy hồn ma của Lincoln, Grant, McKinley và một số đệ nhất phu nhân từ năm 1901 đến 1904.
Trong nhóm bạn bè khá thân, chúng tôi có một cặp bạn - anh chồng là người tốt bụng, dễ mến; anh yêu vợ, nhưng lại có tình ý với một người khác. Khi bạn bè nhắc, anh luôn trả lời chắc nịch: “Vợ tôi đơn giản lắm, bả ấy chẳng để ý, cũng chẳng hay biết gì đâu.”Cô vợ cũng là bạn tôi, một người hiền lành, tử tế. Khi nghe tiếng gần tiếng xa, bạn chỉ cười nhẹ nhàng: “Mình chẳng muốn biết, biết chi cho mệt, cứ nhắm mắt, rồi mọi chuyện cũng qua thôi.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.