Hôm nay,  

Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Và Khuôn Mẫu Học Sinh Việt Nam* Tại Québec

5/27/202011:22:00(View: 16643)

 

*Học sinh thuộc gia đình thuyền nhân định cư tại Québec từ 1975 đến 1981.

Nguyen thuong chanh 01GIA ĐÌNH NGUYỄN T CHÁNH VÀ NGUYỄN N LAN –LEAMSING REFUGEE CAMP-THAILAND-MARS 1980

Nguyen thuong chanh 02CẢNH SỐNG CHẬT VẬT CỦA GIA ĐÌNH  CHÁNH VÀ NGOC LAN (LƯNG QUAY VÔ BẾP), 5 NĂM ĐẦU 1980 1985 TẠI MONTREAL-CẢ CHA MẸ VÀ 2 ĐỨA CON ĐỀU PHẢI ĐI HỌC,

Học sinh, sinh viên Việt Nam thường được tiếng chuyên cần và học giỏi nên thầy cô và học sinh gia trắng thường gán cho các cháu một số khuôn mẫu (Stéréotypes).

Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình. Các con cần phải cố gắng học, học và học…
Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.

                       

****Chanh Nguyen Thuong se fait communicateur auprès de la communauté vietnamienne

Par Rhonda Wilson, Affaires publiques

                                               http://www.advite.com/ChanhNguyen.htm

 

Nguyen thuong chanh 03Nhờ những bài viết cho cộng đồng VN tại Canada phổ biến kiến thức vệ sinh ăn uống, đồng thời cũng là sợi dây liên lạc của cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) với cộng đồng VN, GS Nguyễn Thượng Chánh (K5) được trao tặng giải thưởng Presidential Prize, Community Services tai cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CIFA) tai Ottawa, Nov 2000. Các người trong hình là President, Vice presidents personnel và program của CFIA.

 Dr. Thuong Chanh Nguyen

Quebec Area, Operations Branch

Dr. Nguyen has done a considerable amount of work with the Vietnamese community in Quebec to increase the community's awareness of food safety and consumer protection issues. Dr. Nguyen has written a number of articles directed at the Vietnamese community, which have appeared in Quebec publications and pertain to issues such as hamburger disease and other food-borne illnesses and the important of respecting federal laws to protect Canada's natural resources and agri-food industry.

He has received letters of congratulation from his superiors for his role in educating this community and increasing its awareness of the role the CFIA plays in protecting consumers.

Dr. Nguyen's work has enabled the CFIA to reach out and educate the Vietnamese people of Quebec, increasing their awareness of important health issues.

 Nguyen thuong chanh 04

                                                                  
  ****

Đây là bài phỏng dịch dịch tóm tắt tác phẩm: Tầm quan trọng của giáo dục và “khuôn mẫu của học sinh Việt nam giỏi”-  Tác giả Methot Caroline(1995).

(Univ laval, Québec.được thực hiện qua việc nghiên cứu thăm dò trên một số con em thuyền nhân Việt Nam đến Quebec từ 1975 -1981. )

1-L’importance de l’éducation et stéréotype du « bon élève » vietnamien

http://redtac.org/asiedusudest/test/le-vietnam/societe/stereotypes/

METHOT, Caroline (1995). Du Viet-Nam au Québec : la valse des identités, Québec, Institut québécoise de recherche sur la culture, Coll. « Edmond-de-Nevers », n° 13, 224 pages.

 

Tác phẩm đã được Gs Louis Jacques Dorais, Univ Laval (nhân chủng-xã hôi học) duyệt xét và đánh giá cao.

2-Ouvrage récensé par Louis Jacques Dorais

https://www.erudit.org/revue/cgq/1997/v41/n112/022628ar.pdf

 

 

   Video: La réussite scolaire de la communité vietnamienne
http://www.youtube.com/watch?v=rZZLLUQPfSo 

                                                                            

Các khuôn mẫu thường hay gặp

 

Nguyen Thuong Chanh 04 (2)Học sinh Vn rất căng thẳng trong giờ thi(Des petits vietnamiens très stressés pour leur examen…(Photo https://sites.google.com/site/pol3401vietnam/societe/mythe-du-bon-eleve

 

Video: Collège Jean Eudes Montréal.(Một trong vài trường trung học tư tại Montreal)

http://www.jeaneudes.qc.ca/video

 

Ở trường, học sinh Việt nam thường bị ghép vào những khuôn mẫu (stéréotypes) như:

 

1)-“Người Vn, tất cả các anh chị đều là những “cái đầu” (ám chỉ siêng năng, cần mẫn, “gạo”, học giỏi)- bolles là tiếng lóng (slang) của người québecois để ám chỉ những học sinh siêng năng, học giỏi… Không biết có phải là biến thoái từ chữ Pháp boules (cái đầu) chăng?

 

À l’école, les élèves vietnamiens sont souvent stéréotypés ainsi :

1- "[V]ous autres les Vietnamiens, vous êtes tous des bolles."

 

2)-Người Việt lúc nào cũng chỉ có học và học, họ là những “cái đầu” to lớn (grosses bolles)

2- "Les Vietnamiens étudient tout le temps, c’est des grosses bolles."

 

Devine le sens de l’expression «c’est une bolle»?

Cela ressemble beaucoup à être une boule. En France, le mot boule est souvent synonyme de tête. Donc, je déduis qu’une bolle, c’est quelqu’un qui réussit facilement à l’école.

Bien vu, même si le mot bolle n’est pas une déformation du mot boule. Mais être une bolle en québécois signifie effectivement être doué pour les études, être très intelligent.

http://www.dufrancaisaufrancais.com/dis-en-quebecois-tu-dis-en-francais-ecole/

 

3) À, đúng rồi, là Việt nam, thì các bạn phải có điểm cao.

3-"Ah oui, mais vous autres vous êtes Vietnamiens vous avez des bonnes notes."

 

4)À, người ta biết tại sao người Việt học giỏi ở trường, bởi vì họ chỉ biết làm có một việc mà thôi. Đó là học, học, học. và học.

4-"Ah, on sait pourquoi les Vietnamiens sont bons à l’école, c’est parce que tout ce qu’ils font, c’est étudier."

 

5)Người Việt nam là những “cái đầu”, họ thông minh, biết lắng nghe giáo sư, đi ngủ sớm, và lúc nào họ cũng học, học và  học.

 5-"Les Vietnamiens sont des bolles, ils sont intelligents, ils écoutent les profs, ils dorment tôt, ils étudient tout le temps."

 

Người ta tưởng lầm rằng sự thành công là do nguồn gốc sắc tộc quyết định nhờ vậy các em học sinh Việt nam có được những thành tích vẻ vang.., (Méthot 1995, p122, 126). Kể cả luôn giới giáo sư cũng duy trì ý tưởng về khuôn mẫu đối với học sinh Vn. “Rất hiếm thấy họ bàn luận những gì khác hơn ngoài chuyện học hành của học sinh gốc Á châu” và qua một cách thức nào đó họ làm lan truyền “huyền thoại lạ thường về thành tích của học sinh Việt nam”. Rất nhiều em học sinh Vn rất sợ bị gán cho những định kiến trên.(Méthot, 1995, p.122) Họ tỏ ra rất bối rối mỗi khi bị gán vào khuôn mẫu nêu trên. Đúng vậy, các em học sinh Vn cố gắng hết mình trong trường nhưng không phải là tất cả mọi người đều đạt được thành tích học vấn vẻ vang hết đâu

 

Comme si l’origine ethnique est la raison du succès, les Vietnamiens sont étiquetés en fonction de leurs performances scolaires (Méthot 1995, p. 122, 126). Même les professeurs entretiennent ces stéréotypes. Ils « parleraient rarement de sujets autres que scolaires aux élèves asiatiques » et propagent d’une certaine façon ces stéréotypes du « mythe des qualités intellectuels extraordinaires des Viet ». Beaucoup d’élèves vietnamiens ont peur de ces préjugés (Méthot 1995, p. 122) et se sentent très mal à l’aise lorsqu’ils sont ainsi désignés. Certes, ils s’efforcent beaucoup pour bien performer à l’école, mais ce n’est pas tout le monde qui performe tous dans l’excellence scolaire.

Như các bạn đã biết, đối với người Việt, gia đình có một giá trị quan trọng nhất, nhưng bạn có hiểu là giáo dục, học vấn cũng là một giá trị gia đình không? Minh và Quan, cả hai cháu đều ở lớp tuổi 20 và đã đến Québec khi còn bé, Hai cháu đã nói như sau:  “Đối với cha mẹ tôi, không nên đi chơi quá thường xuyên,và cần phải dành thì giờ để học hành.Thứ bảy học,chúa nhật học và trong mùa hè cũng cần phải học, ôn bài vở trước cho mùa tựu trường năm tới”.

Trong gia đình tôi, học hành là việc quan trọng đứng hàng đầu. Đối với pa má tôi, việc quan trọng nhứt  là con cái phải thành công trong học vấn. ”(Méthot 1995.p 120)

 

Vous savez déjà que la famille est la valeur la plus importante pour les Vietnamiens, mais savez-vous que l’éducation et les études constituent aussi une valeur familiale? Minh et Quan, tous deux dans la vingtaine et sont arrivés au Québec quand ils étaient encore jeunes enfants, témoignent ainsi :

« Pour mes parents, il faut pas sortir trop souvent et puis il faut étudier la plupart du temps. Le samedi étudier, le dimanche étudier et durant l’été il faut réviser ses notes pour la prochaine année. »

« Dans ma famille, les études c’est la première chose qui est importance, Pour les parents, la chose la plus importante c’est que leurs enfants réussissent leurs études. » (Méthot 1995, p. 120).

 

Phần đông gia đình Việt nam định cư trong thành phố đã rời bỏ quê hương của họ trong những bối cảnh vô cùng bi thảm (Thuyền nhân).Họ đã bỏ lại tất cả sau lưng. Đối với mọi gia đình VN, học vấn là một đảm bảo cho tương lai tốt đẹp và cho sự cải tiến số phận trong cuộc đời. Thành công trong học vấn cũng có nghĩa là thăng tiến lên trong các bậc thang xã hội, cho sự hội nhập, cũng như đạt được sự kính nễ. Cha mẹ VN thường thúc đẩy mạnh mẽ con cái trong việc học hành, bắt các cháu phải nổ lực cố gắng thật nhiều trong việc học tập vì theo họ “thành công của con cái trong học vấn là danh dự chung cho  cả gia đình” (Méthot 1995, p.158)

 

La très grande majorité des familles vietnamiennes immigrées dans la ville ont quitté le Vietnam dans des conditions catastrophiques (boat people). Ils ont tous laissé, ou presque, derrière eux. Pour ces familles, l’éducation est une garantie pour améliorer leur sort de vie. La réussite des études signifie élévation sociale, intégration et respectabilité. Bien souvent, les parents poussent fortement les enfants à fournir des efforts considérables dans les études, car « l’honneur de la famille repose sur la réussie des enfants » (Méthot 1995, p. 158).

 

Coi trọng sự thành công trong học vấn và “tôn thờ” bằng cấp là những di sản văn hóa có từ thời khổng giáo bành trướng tại Việt nam vào thế kỷ thứ 15. Bị thúc đẩy theo chiều  hướng quan trọng hóa việc học hành, các học sinh Việt nam luôn luôn ấp ủ khát vọng của cha mẹ chúng. Các em không phải là những thiên tài nhỏ nhưng họ chỉ “học chết bỏ” hay “gạo” tối đa mà thôi. (“Gạo” là danh từ 50 -60 năm về trước, học sinh miền Nam thường sử dụng để chỉ những ai quá siêng học, cả ngày lẫn đêm…) (Méthot 1995, p.124)

 Cette valorisation du succès scolaire et vénération du diplôme sont des héritages culturels depuis la ‘confucianisation’ du pays au 15e siècle. Poussés dans vers la direction de l’importance des études, les enfants vietnamiens intériorisent en eux le désir de leurs parents. Les Vietnamiens ne sont pas des « petits génies », mais simplement ils « bûch[ent] plus » aux études (Méthot 1995, p. 124).

 

Đối với các cháu quá siêng học, thành tích và áp lực thường đi đôi với nhau. Việc học hành chiếm hầu hết thời gian, nên phần giải trí phải chịu mất mát đi rất nhiều.(Méthot 1995, p125).

Pour ces Vietnamiens, performance et pression vont de pairs. Les heures consacrées aux études sont nombreuses, et, bien souvent le temps des loisirs est du temps perdu (Méthot 1995, p. 125).

 

Học sinh Vn tự họ tạo áp lức đối với chính họ. Đó là phải hết sức cố gắng trong việc học hành, và ngoài ra họ còn phải chịu áp lực từ phía cha mẹ, từ người xung quanh và cả từ phía cộng đồng Vn.

 Ils se mettent beaucoup de la pression sur eux-mêmes pour les études, mais se font aussi mettre de la pression par-dessus les épaules par les parents, par l’entourage et par la même par  communauté vietnamienne.

 

Phải đạt được một vài thành tích nào đó. Rất gây go. Quá nhiều áp lực…tôi nói thật, làm người Vn không phải là dễ đâu vì bạn phải chịu đựng quá nhiều áp lực của xã hội…người ta đòi hỏi mình quá nhiều. (Méthot 1995, page 125-126)

« Il faut avoir une certaine performance. C’est très exigeant. C’est beaucoup de pression… je vous dis franchement, être Vietnamien, c’est tought, parce que tu as beaucoup de pressions de la société vietnamienne […] ils t’en demandent beaucoup, là », dit Bao (18 ans) (Méthot 1995, p. 125-126)

 

Thúc đẩy phía sau bởi cha mẹ, áp lực từ cộng đồng và còn bị gán ghép vào khuôn mẫu bởi bạn bè và thầy cô ở trường nữa.  Học sinh Vn đôi khi cảm thấy quá nặng nề những hy vọng, những mong đợi của gia đình muốn họ phải thăng tiến trong đời sống. Tất cả đều nằm trong cái cartable của mình. (Méthot 1995, p,159)

Poussés par les parents à la maison, pressés par la communauté et stéréotypés par ses pairs et ses professeurs à l’école, l’enfant vietnamien trouve parfois très lourd que tous les espoirs de sa famille pour accéder à une meilleur vie reposent sur son cartable (Méthot 1995, p. 159).

 

Vậy, làm ơn ngưng ngay việc  tin tưởng rằng các em  học sinh Vn đều là những “thiên tài nhỏ”! Họ chỉ biết cố sức học để có được kết quả tốt mà thôi. Sự thành công của họ không phải đã được xếp đặt và xác định sẵn trong gènes đâu.

Ainsi, s’il vous plaît, cessez de croire que tous les Vietnamiens sont des « petits génies »! Ils ne font seulement que travailler pour obtenir des résultats et que la réussite scolaire ne sont pas codées dans leurs gènes!

Nguyen thuong chanh 05DR NGUYEN THUONG CHANH, DMV 1981-85-UNIVERSITÉ DE MONTREAL

 

 

Nguyen thuong chanh 06.jpgDRE NGUYỄN NGỌC LAN CHÂU MD-GRADUATION 2005

UNIVERSITÉ DE MONTREAL.

Tham khảo

-J Louis Dorais- Identités vietnamienne au Quebec

http://www.erudit.org/revue/RS/2004/v45/n1/009235ar.html

-Người Việt tị nạn tại Montréal

https://vietbao.com/a234938/nguoi-viet-ti-nan-tai-montreal

- LÚA ĐÃ ĐƠM BÔNG TRÊN MIỀN ĐẤT HỨA

https://vietbao.com/a234836/niem-tu-hao-cua-nguoi-viet-ti-nan-lua-da-dom-bong-tren-mien-dat-hua

-Video: Hội nhập của người Việt tị nạn cộng sản ngay sau năm 1975 tại quận 13 Paris
http://www.dailymotion.com/video/xfczg9_les-vietnamiens_news
- Đài Á Châu Tự do RFA-Người Việt ở Montreal, Canada
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnamese_community_in_Montreal_Canada_HYen-07072008164355.html

 

 

MONTREAL  MAY 2020  MÙA ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU  COVID 19

HẾT

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.