Hôm nay,  

Ảnh Hưởng Quyền Quốc Tịch Theo Nơi Sinh Tại Hoa Kỳ Đối Với Cộng Đồng Người Việt

31/08/201915:32:00(Xem: 6952)

ẢNH HƯỞNG QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH
TẠI HOA KỲ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT

 
Mai Phi-Long

  

blankMai Phi Long

Trong bối cảnh chính trị hiện nay, những thuật ngữ liên quan đến di cư, di dân chợt bùng nổ trong xã hội Hoa Kỳ.  Trong đó có chữ “birthright”.

 

“Birthright” diễn dịch một cách đơn giản là “quyền có quốc tịch” theo nơi sinh.  Quyền quốc tịch vốn là một chủ đề phức tạp trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia.  Hơn ai hết, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, một đất nước được hình thành bởi nhiều chủng tộc, vấn đề quyền quốc tịch luôn luôn là trọng điểm ngay từ ngày lập quốc.

 

Một cách tổng quát, về nền tảng lý luận luật pháp: sự thành lập quyền quốc tịch của mọi quốc gia trên thế giới đều dựa trên hai khái niệm căn bản là “Jus Sanguinis” và “Jus Soli”.

  

 

KHÁI NIỆM “JUS SANGUINIS” VÀ “JUS SOLI”

 

 “Jus Sanguinis” có nghĩa là quyền theo huyết thống.  Tức là: Con sanh ra có quyền mặc nhiên thừa hưởng quốc tịch của cha hay mẹ.  Đây là khái niệm được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới.

 

“Jus Soli” có nghĩa là quyền quốc tịch theo nơi sanh.  Nhiều quốc gia áp dụng khái niệm cho quyền quốc tịch những ai sinh ra trên lãnh thổ. Hiện nay, có 30 quốc gia áp dụng khái niệm Jus Soli, trong đó có Hoa Kỳ.

 

Trong khi, không cần phải bàn cãi việc đưa ra luật quốc tịch dựa trên khái niệm “Jus Sanguinis”, tuy nhiên, khi áp dụng khái niệm “Jus Soli” thì các quốc gia hầu như phải tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

  

 

KHỞI THỦY QUYỀN CÔNG DÂN THEO NƠI SINH RA TẠI HOA KỲ CHỈ ÁP DỤNG CHO NGƯỜI DA TRẮNG

 

Năm 1787, Hiến Pháp Hoa Kỳ định nghĩa Công Dân là những người sinh ra tại hoặc nhập tịch Hoa Kỳ và những lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ.  Sau khi giành độc lập hoàn toàn từ Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ vẫn tiếp nhận những làn sóng di dân từ Âu Châu tiếp tục đổ vào. Do đó, nhu cầu thiết lập quyền công dân cần được nới rộng.  Luật nhập tịch năm 1790 viết rằng: “That any Alien being a free white person, who shall have resided within . . . the United States for the term of two years, may be admitted to become a citizen.”  Tạm dịch: “Những người da trắng tự chủ có thể được quyền công dân nếu sống tại Hoa Kỳ 2 năm.” Luật còn đòi hỏi người xin nhập tịch phải có nhân thân tốt và tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp Hoa Kỳ.  

 

Luật 1790 cũng cho phép con cái dưới 21 tuổi của những người này, dù không sinh ra tại Hoa Kỳ, cũng được cấp quyền công dân.  Luật trên được tu chính vào năm 1795 đòi hỏi thời gian cư trú là 5 năm, đây cũng là tiêu chuẩn trong nhiều năm sau này (ngoại trừ thay đổi vào năm 1798 đòi hỏi 14 năm, nhưng sang năm 1802 lại trở lại 5 năm).

 

Nhưng luật nhập tịch thời gian này không hề đá động đến hai nhóm dân đông đảo cùng hiện hữu tại xã hội Hoa Kỳ lúc ấy là “dân nô lệ” và những “thổ dân da đỏ”.  Những người thuộc hai  nhóm này không được xem là công dân Hoa Kỳ lúc đó.  Thật mỉa mai, người thổ dân da đỏ mới thật sự là chủ nhân Mỹ Châu và nền văn minh Inca phát triển rực rỡ trước khi Christopher Columbus chưa ra đời.  Còn những người gốc Phi Châu bị bắt cóc tại xứ sở của họ rồi bị đem lên các chuyến tàu của người Âu Châu chở sang Mỹ Châu bán làm nô lệ.

Sự thật lịch sử đó nêu rõ bản chất sự hình thành tinh thần kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ.

 

Ngoài ra, ít người chú ý hay biết về nạn kỳ thị lẫn nhau giữa những người da trắng gốc Âu Châu dù đây là một thực tế tệ hại trong thời kỳ đầu lịch sử Hoa Kỳ.  Người Anh và Tô Cách Lan theo Thanh Giáo, hay Tin Lành, qua trước, bạc đãi và hiếp đáp những người Ái Nhĩ Lan và Ý, theo đạo Công Giáo. Do đó, ngay từ sơ khai nền Cộng Hòa Bắc Mỹ, quyền quốc tịch của các di dân thường xuyên bị thách thức. 

 

Một trong những vụ án sớm nhất về quyền quốc tịch theo nơi sinh mà liên quan giữa sắc dân da trắng là vụ Lynch vs Clarke hồi năm 1844.  Trong vụ án này, quan tòa Lewis Sandford ra phán quyết một cô con gái, được sinh ra tại tiểu bang New York, có cha mẹ là di dân gốc Ái Nhĩ Lan, là công dân Hoa Kỳ.  Khi vụ án xảy ra, cha mẹ cô gái đã trở về cố quốc. Trong án lệnh, thẩm phán Sandford lập luận: “By the law of the United States, every person born within the dominions and allegiance of the United States, whatever were the situation of his parents, is a natural born citizen.”  Tạm dịch: “Chiếu theo luật của Hoa Kỳ, mỗi cá nhân sinh ra trong phạm vi chủ quyền và lãnh thổ của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, bất luận hoàn cảnh nào của cha mẹ, là công dân bẩm sinh.” 

 

Tuy nhiên, hệ thống tư pháp Hoa Kỳ lại không áp dụng “Jus Soli” trong trường hợp người liên quan không phải người da trắng.

  

 

NỘI CHIẾN NAM BẮC LÀM THAY ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH CHO NGƯỜI GỐC PHI CHÂU

 

Trong vụ án Dred Scott vs Sandford năm 1857, người đào thoát khỏi tay chủ nô Dred Scott, dòng dõi của nộ lệ từ Phi Châu được sinh ra tại Hoa Kỳ, không được xem là công dân.  Chánh án Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Roger B. Taney ra phán quyết: Không có bất ký dòng dõi nô lệ Phi Châu nào được xem là công dân ngay cả được sanh ra tại Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên, kết thúc cuộc nội chiến Nam Bắc với chiến thắng của phe Liên Quân Miền Bắc chống chế độ nô lệ đã làm tâm thức chủ nô ở Hoa Kỳ thay đổi.  Năm 1864, Bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ, Edward Bates, nối kết vấn đề quốc tịch theo nơi sinh với những chiến binh gốc nô lệ Phi Châu trong quân đội Liên Quân Miền Bắc đã khẳng định tất cả những người tự chủ da màu sinh ra tại lãnh thổ Hoa Kỳ đều là công dân.  Thời hậu chiến, Quốc Hội đã thông qua luật dân quyền ban quyền công dân cho tất cả những ai sinh ra tại Hoa Kỳ và những người đó không bị lệ thuộc trong vòng tài phán của bất kỳ quốc gia ngoại quốc nào.

 

Và theo trình tự phát triển xã hội sau cuộc Nội Chiến, đến lúc Hiến Pháp Hoa Kỳ, văn bản luật cao nhất của quốc gia, được cập nhật tình trạng quyền quốc tịch với Tu Chánh Án 14.

 

TU CHÁNH ÁN 14 XÁC ĐỊNH QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH TẠI HOA KỲ

 

Năm 1868, Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn thuận Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ áp dụng khái niệm “Jus Soli,” viết: 

 

 “All persons born or naturalized in the United States, and subject to the jurisdiction thereof, are citizens of the United States and of the state wherein they reside.” Tạm dịch: “Tất cả những ai sinh ra hoặc được nhập tịch Hoa Kỳ trong vùng thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ, là công dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và tiểu bang mà họ cư trú.”  

 

Như vậy, hiến pháp công nhận: Người nào sinh ra ở Hoa Kỳ và vùng lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ đều là công dân Hoa Kỳ. Chấm hết.   

 

Hệ luận: Cho dù cha mẹ không phải công dân Hoa Kỳ, con sinh ra trên đất Hoa Kỳ, là tự nhiên được hưởng quốc tịch Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên,Tu Chính Án 14 đặt ra một số miễn trừ đó là: Không áp dụng cho con cái sinh ra tại Hoa Kỳ của những viên chức ngoại giao ngoại quốc, thành viên quân ngoại bang chiếm đóng hoặc người thổ dân Mỹ Châu thuộc các chính quyền bộ lạc, vì các nhóm này “không thuộc quyền tài phán” của Hoa Kỳ.

 

Như vậy, luật quốc tịch theo nơi sinh ra không phải là kết quả của một sự kiện đơn giản mà được hình thành theo tiến trình tiến hóa thăng trầm của lịch sử đất nước Hoa Kỳ.  Sự anh minh công lý của luật pháp cũng phải trải qua một quá trình đào thải bất công.  

 

Hai mươi năm sau khi Tu Chánh Án 14 ra đời, một vụ án về hiến pháp lớn xảy ra năm 1898 liên quan đến một bộ luật đầy tính kỳ chủng tộc: Luật Miễn Hoa Kiều (Chinese Exclusion Act).

  

 

VỤ ÁN WONG KIM ARK

 

Wong Kim Ark, một đầu bếp, dòng dõi người Hoa, sinh ra tại Hoa Kỳ năm 1873.  Năm Wong 25 tuối, 1898, ông bị giữ lại không cho nhập cảnh tại San Francisco sau khi trở về từ Trung Hoa.

 

Vì sao?

 

Cho dù, Tu Chánh Án 14 ra đời năm 1868, nhưng 12 năm sau, năm 1882, luật Miễn Hoa Kiều- Chinese Exclusion Act cấm di dân từ Trung Hoa và cấm Hoa Kiều được nhập tịch Hoa Kỳ được thông qua.   Luật này bất chấp thực tế là hệ thống hỏa xa nối liền miền Đông và miền Tây, biểu tượng cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ đã thấm đầy mồ hôi và nước mắt của những người Trung Hoa từ thế kỷ 19.  

 

Khi bị từ chối nhập cảnh, Wong buộc phải sống trên một chiếc tàu hàng nằm tại vịnh San Francisco nhiều tháng trời trong khi chờ luật sư của ông khiếu nại về quyền công dân.  Câu hỏi mấu chốt là song thân của Wong Kim Ark không là công dân nhưng đương sự sinh ra tại Hoa Kỳ có được Tu Chánh Án 14 bảo vệ hay không?

 

Đặc biệt, vụ án này được Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ chọn thử nghiệm nhằm tạo tiền lệ rằng hậu duệ Hoa Kiều không phải là công dân.  Do đó, vụ án này đi thẳng lên Tối Cao Pháp Viện.

 

Điều không ngờ đã xảy ra một cách ngoạn mục: Wong thắng vụ kiện đối đầu với Bộ Tư Pháp.  Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Horace Gray luận giải: “The Fourteenth Amendment, in clear words and in manifest intent, includes the children born, within the territory of the United States, of all other persons, of whatever race or color, domiciled within the United States.” Tạm dịch: “Tu Chánh Án 14, bằng những ngôn từ rõ ràng và trong chủ ý, bao gồm các trẻ em sinh ra trong lãnh thổ của Hoa Kỳ, con của  bất kỳ người nào, chủng tộc hay màu da nào, đều hợp pháp trong lãnh thổ Hoa Kỳ.”

 

Thẩm Phán Horace Gray lập luận thêm rằng nếu để Tu Chánh Án 14 loại trừ quyền công dân của trẻ em được sinh tại Hoa Kỳ mà là con của công dân quốc gia khác thì quyền quốc tịch hàng ngàn trẻ em, trong tình trạng tương tự, bị đe dọa khi cha mẹ là công dân nước Anh, Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan, Đức, và các quốc gia Âu Châu khác.  Lập luận của Thẩm Phán Gray nêu rõ rằng ban quốc tịch cho một trẻ em người Mỹ gốc Hoa không đe dọa người Mỹ da trắng. Còn nếu tước quyền quốc tịch của Wong, thì về mặt luật pháp, sẽ đe dọa đặc ân quốc tịch mà những người Mỹ da trắng đang có.

 

Án lệ từ vụ kiện của Wong Kim Ark được vận dụng bảo vệ cho người Mỹ gốc Nhật bị đe dọa tước quốc tịch trong vụ án cấp liên bang Regan vs King thời Đệ Nhị Thế Chiến.

 

NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN TẠI HOA KỲ VÀ VẤN ĐỀ NHẬP TỊCH

 

Đối với người Việt Nam ào ạt sang Hoa Kỳ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 qua các đợt di tản, vượt biên, bảo lãnh và chương trình HO đều được tuần tự nhập tịch và không ít người Việt xem nhận được quốc tịch Hoa Kỳ là một chuyện đương nhiên.  Nhưng với hiểu biết được hoàn cảnh lịch sử sự hình thành Tu Chánh Án 14, và sự tranh đấu của những người thiểu số như trong các vụ án được kể ở phần trên, không có gì “đương nhiên” cả.  

 

NGƯỜI VIỆT MAY MẮN

 

May mắn vì đã được những người thiểu số khác đi trước tranh đấu và trả giá cho những bất công xã hội về mặt luật pháp.  Rõ ràng, nếu không có những người nô lệ da đen chiến đấu hy sinh trong hàng ngũ Liên Quân Miền Bắc thời Nội Chiến Hoa Kỳ thì không có Tu Chánh Án 14, không có án lệ Dred Scotts vs Sanford, Wong Kim Ark, Regan vs King.  

 

Thử tưởng tượng, nếu không có những sự kiện vừa nêu, trong khi bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhất đang chờ đợi nhập tịch, thì bao nhiêu hậu duệ của người Việt tị nạn, vừa sinh ra không được thừa nhận quốc tịch và hưởng những ưu đãi dành cho công dân Hoa Kỳ?  Hoặc giả bao nhiêu hậu duệ trong độ tuổi vị thành niên không được “ăn theo” cha mẹ, khi cha mẹ vừa nhập tịch Hoa Kỳ, mà phải chờ đến 18 tuổi để thi quốc tịch, thì suốt trong những năm trung học hay đầu đại học không có quốc tịch thì bao nhiêu ưu tiên cho công dân Hoa Kỳ đến trường sẽ không tới tay họ.

 

Như vậy, liệu rằng lòng hãnh diện trước sự thành công trên con đường học vấn của thế hệ con cháu thứ hai và thứ ba có hay không?

 

Lịch sử cho thấy: Luật Pháp không là qui luật tuyệt đối.  Luật Pháp chỉ là qui ước xã hội được con người đặt ra và luôn có lỗ hổng.  Luật Pháp chỉ trở thành Công Lý và Anh Minh vì những nỗ lực hoàn thiện không ngừng qua sự tranh đấu của những người bị đối xử bất công vì những lỗ hổng đó.

 

Châm ngôn Việt có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  

 

Mai Phi-Long

 

(August, 2019)

   

 

Tham Khảo:

 

https://www.history.com/news/birthright-citizenship-history-united-states

 

https://www.nationalgeographic.com/culture/2018/10/birthright-citizenship-explainer-united-states-history/

 

https://www.britannica.com/topic/Chinese-Exclusion-Act

 

https://www.vox.com/2018/7/23/17595754/birthright-citizenship-trump-14th-amendment-executive-order

 

https://books.google.com/books?id=6oW0CgAAQBAJ&lpg=PA14&dq=wong%20kim%20ark%20test%20case&pg=PA14&_ga=2.78667024.547058710.1566804817-1169326936.1566483572#v=onepage&q=wong%20kim%20ark%20test%20case&f=false

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.