Hôm nay,  

Ảnh Hưởng Quyền Quốc Tịch Theo Nơi Sinh Tại Hoa Kỳ Đối Với Cộng Đồng Người Việt

31/08/201915:32:00(Xem: 6949)

ẢNH HƯỞNG QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH
TẠI HOA KỲ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT

 
Mai Phi-Long

  

blankMai Phi Long

Trong bối cảnh chính trị hiện nay, những thuật ngữ liên quan đến di cư, di dân chợt bùng nổ trong xã hội Hoa Kỳ.  Trong đó có chữ “birthright”.

 

“Birthright” diễn dịch một cách đơn giản là “quyền có quốc tịch” theo nơi sinh.  Quyền quốc tịch vốn là một chủ đề phức tạp trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia.  Hơn ai hết, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, một đất nước được hình thành bởi nhiều chủng tộc, vấn đề quyền quốc tịch luôn luôn là trọng điểm ngay từ ngày lập quốc.

 

Một cách tổng quát, về nền tảng lý luận luật pháp: sự thành lập quyền quốc tịch của mọi quốc gia trên thế giới đều dựa trên hai khái niệm căn bản là “Jus Sanguinis” và “Jus Soli”.

  

 

KHÁI NIỆM “JUS SANGUINIS” VÀ “JUS SOLI”

 

 “Jus Sanguinis” có nghĩa là quyền theo huyết thống.  Tức là: Con sanh ra có quyền mặc nhiên thừa hưởng quốc tịch của cha hay mẹ.  Đây là khái niệm được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới.

 

“Jus Soli” có nghĩa là quyền quốc tịch theo nơi sanh.  Nhiều quốc gia áp dụng khái niệm cho quyền quốc tịch những ai sinh ra trên lãnh thổ. Hiện nay, có 30 quốc gia áp dụng khái niệm Jus Soli, trong đó có Hoa Kỳ.

 

Trong khi, không cần phải bàn cãi việc đưa ra luật quốc tịch dựa trên khái niệm “Jus Sanguinis”, tuy nhiên, khi áp dụng khái niệm “Jus Soli” thì các quốc gia hầu như phải tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

  

 

KHỞI THỦY QUYỀN CÔNG DÂN THEO NƠI SINH RA TẠI HOA KỲ CHỈ ÁP DỤNG CHO NGƯỜI DA TRẮNG

 

Năm 1787, Hiến Pháp Hoa Kỳ định nghĩa Công Dân là những người sinh ra tại hoặc nhập tịch Hoa Kỳ và những lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ.  Sau khi giành độc lập hoàn toàn từ Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ vẫn tiếp nhận những làn sóng di dân từ Âu Châu tiếp tục đổ vào. Do đó, nhu cầu thiết lập quyền công dân cần được nới rộng.  Luật nhập tịch năm 1790 viết rằng: “That any Alien being a free white person, who shall have resided within . . . the United States for the term of two years, may be admitted to become a citizen.”  Tạm dịch: “Những người da trắng tự chủ có thể được quyền công dân nếu sống tại Hoa Kỳ 2 năm.” Luật còn đòi hỏi người xin nhập tịch phải có nhân thân tốt và tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp Hoa Kỳ.  

 

Luật 1790 cũng cho phép con cái dưới 21 tuổi của những người này, dù không sinh ra tại Hoa Kỳ, cũng được cấp quyền công dân.  Luật trên được tu chính vào năm 1795 đòi hỏi thời gian cư trú là 5 năm, đây cũng là tiêu chuẩn trong nhiều năm sau này (ngoại trừ thay đổi vào năm 1798 đòi hỏi 14 năm, nhưng sang năm 1802 lại trở lại 5 năm).

 

Nhưng luật nhập tịch thời gian này không hề đá động đến hai nhóm dân đông đảo cùng hiện hữu tại xã hội Hoa Kỳ lúc ấy là “dân nô lệ” và những “thổ dân da đỏ”.  Những người thuộc hai  nhóm này không được xem là công dân Hoa Kỳ lúc đó.  Thật mỉa mai, người thổ dân da đỏ mới thật sự là chủ nhân Mỹ Châu và nền văn minh Inca phát triển rực rỡ trước khi Christopher Columbus chưa ra đời.  Còn những người gốc Phi Châu bị bắt cóc tại xứ sở của họ rồi bị đem lên các chuyến tàu của người Âu Châu chở sang Mỹ Châu bán làm nô lệ.

Sự thật lịch sử đó nêu rõ bản chất sự hình thành tinh thần kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ.

 

Ngoài ra, ít người chú ý hay biết về nạn kỳ thị lẫn nhau giữa những người da trắng gốc Âu Châu dù đây là một thực tế tệ hại trong thời kỳ đầu lịch sử Hoa Kỳ.  Người Anh và Tô Cách Lan theo Thanh Giáo, hay Tin Lành, qua trước, bạc đãi và hiếp đáp những người Ái Nhĩ Lan và Ý, theo đạo Công Giáo. Do đó, ngay từ sơ khai nền Cộng Hòa Bắc Mỹ, quyền quốc tịch của các di dân thường xuyên bị thách thức. 

 

Một trong những vụ án sớm nhất về quyền quốc tịch theo nơi sinh mà liên quan giữa sắc dân da trắng là vụ Lynch vs Clarke hồi năm 1844.  Trong vụ án này, quan tòa Lewis Sandford ra phán quyết một cô con gái, được sinh ra tại tiểu bang New York, có cha mẹ là di dân gốc Ái Nhĩ Lan, là công dân Hoa Kỳ.  Khi vụ án xảy ra, cha mẹ cô gái đã trở về cố quốc. Trong án lệnh, thẩm phán Sandford lập luận: “By the law of the United States, every person born within the dominions and allegiance of the United States, whatever were the situation of his parents, is a natural born citizen.”  Tạm dịch: “Chiếu theo luật của Hoa Kỳ, mỗi cá nhân sinh ra trong phạm vi chủ quyền và lãnh thổ của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, bất luận hoàn cảnh nào của cha mẹ, là công dân bẩm sinh.” 

 

Tuy nhiên, hệ thống tư pháp Hoa Kỳ lại không áp dụng “Jus Soli” trong trường hợp người liên quan không phải người da trắng.

  

 

NỘI CHIẾN NAM BẮC LÀM THAY ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH CHO NGƯỜI GỐC PHI CHÂU

 

Trong vụ án Dred Scott vs Sandford năm 1857, người đào thoát khỏi tay chủ nô Dred Scott, dòng dõi của nộ lệ từ Phi Châu được sinh ra tại Hoa Kỳ, không được xem là công dân.  Chánh án Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Roger B. Taney ra phán quyết: Không có bất ký dòng dõi nô lệ Phi Châu nào được xem là công dân ngay cả được sanh ra tại Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên, kết thúc cuộc nội chiến Nam Bắc với chiến thắng của phe Liên Quân Miền Bắc chống chế độ nô lệ đã làm tâm thức chủ nô ở Hoa Kỳ thay đổi.  Năm 1864, Bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ, Edward Bates, nối kết vấn đề quốc tịch theo nơi sinh với những chiến binh gốc nô lệ Phi Châu trong quân đội Liên Quân Miền Bắc đã khẳng định tất cả những người tự chủ da màu sinh ra tại lãnh thổ Hoa Kỳ đều là công dân.  Thời hậu chiến, Quốc Hội đã thông qua luật dân quyền ban quyền công dân cho tất cả những ai sinh ra tại Hoa Kỳ và những người đó không bị lệ thuộc trong vòng tài phán của bất kỳ quốc gia ngoại quốc nào.

 

Và theo trình tự phát triển xã hội sau cuộc Nội Chiến, đến lúc Hiến Pháp Hoa Kỳ, văn bản luật cao nhất của quốc gia, được cập nhật tình trạng quyền quốc tịch với Tu Chánh Án 14.

 

TU CHÁNH ÁN 14 XÁC ĐỊNH QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH TẠI HOA KỲ

 

Năm 1868, Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn thuận Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ áp dụng khái niệm “Jus Soli,” viết: 

 

 “All persons born or naturalized in the United States, and subject to the jurisdiction thereof, are citizens of the United States and of the state wherein they reside.” Tạm dịch: “Tất cả những ai sinh ra hoặc được nhập tịch Hoa Kỳ trong vùng thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ, là công dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và tiểu bang mà họ cư trú.”  

 

Như vậy, hiến pháp công nhận: Người nào sinh ra ở Hoa Kỳ và vùng lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ đều là công dân Hoa Kỳ. Chấm hết.   

 

Hệ luận: Cho dù cha mẹ không phải công dân Hoa Kỳ, con sinh ra trên đất Hoa Kỳ, là tự nhiên được hưởng quốc tịch Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên,Tu Chính Án 14 đặt ra một số miễn trừ đó là: Không áp dụng cho con cái sinh ra tại Hoa Kỳ của những viên chức ngoại giao ngoại quốc, thành viên quân ngoại bang chiếm đóng hoặc người thổ dân Mỹ Châu thuộc các chính quyền bộ lạc, vì các nhóm này “không thuộc quyền tài phán” của Hoa Kỳ.

 

Như vậy, luật quốc tịch theo nơi sinh ra không phải là kết quả của một sự kiện đơn giản mà được hình thành theo tiến trình tiến hóa thăng trầm của lịch sử đất nước Hoa Kỳ.  Sự anh minh công lý của luật pháp cũng phải trải qua một quá trình đào thải bất công.  

 

Hai mươi năm sau khi Tu Chánh Án 14 ra đời, một vụ án về hiến pháp lớn xảy ra năm 1898 liên quan đến một bộ luật đầy tính kỳ chủng tộc: Luật Miễn Hoa Kiều (Chinese Exclusion Act).

  

 

VỤ ÁN WONG KIM ARK

 

Wong Kim Ark, một đầu bếp, dòng dõi người Hoa, sinh ra tại Hoa Kỳ năm 1873.  Năm Wong 25 tuối, 1898, ông bị giữ lại không cho nhập cảnh tại San Francisco sau khi trở về từ Trung Hoa.

 

Vì sao?

 

Cho dù, Tu Chánh Án 14 ra đời năm 1868, nhưng 12 năm sau, năm 1882, luật Miễn Hoa Kiều- Chinese Exclusion Act cấm di dân từ Trung Hoa và cấm Hoa Kiều được nhập tịch Hoa Kỳ được thông qua.   Luật này bất chấp thực tế là hệ thống hỏa xa nối liền miền Đông và miền Tây, biểu tượng cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ đã thấm đầy mồ hôi và nước mắt của những người Trung Hoa từ thế kỷ 19.  

 

Khi bị từ chối nhập cảnh, Wong buộc phải sống trên một chiếc tàu hàng nằm tại vịnh San Francisco nhiều tháng trời trong khi chờ luật sư của ông khiếu nại về quyền công dân.  Câu hỏi mấu chốt là song thân của Wong Kim Ark không là công dân nhưng đương sự sinh ra tại Hoa Kỳ có được Tu Chánh Án 14 bảo vệ hay không?

 

Đặc biệt, vụ án này được Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ chọn thử nghiệm nhằm tạo tiền lệ rằng hậu duệ Hoa Kiều không phải là công dân.  Do đó, vụ án này đi thẳng lên Tối Cao Pháp Viện.

 

Điều không ngờ đã xảy ra một cách ngoạn mục: Wong thắng vụ kiện đối đầu với Bộ Tư Pháp.  Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Horace Gray luận giải: “The Fourteenth Amendment, in clear words and in manifest intent, includes the children born, within the territory of the United States, of all other persons, of whatever race or color, domiciled within the United States.” Tạm dịch: “Tu Chánh Án 14, bằng những ngôn từ rõ ràng và trong chủ ý, bao gồm các trẻ em sinh ra trong lãnh thổ của Hoa Kỳ, con của  bất kỳ người nào, chủng tộc hay màu da nào, đều hợp pháp trong lãnh thổ Hoa Kỳ.”

 

Thẩm Phán Horace Gray lập luận thêm rằng nếu để Tu Chánh Án 14 loại trừ quyền công dân của trẻ em được sinh tại Hoa Kỳ mà là con của công dân quốc gia khác thì quyền quốc tịch hàng ngàn trẻ em, trong tình trạng tương tự, bị đe dọa khi cha mẹ là công dân nước Anh, Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan, Đức, và các quốc gia Âu Châu khác.  Lập luận của Thẩm Phán Gray nêu rõ rằng ban quốc tịch cho một trẻ em người Mỹ gốc Hoa không đe dọa người Mỹ da trắng. Còn nếu tước quyền quốc tịch của Wong, thì về mặt luật pháp, sẽ đe dọa đặc ân quốc tịch mà những người Mỹ da trắng đang có.

 

Án lệ từ vụ kiện của Wong Kim Ark được vận dụng bảo vệ cho người Mỹ gốc Nhật bị đe dọa tước quốc tịch trong vụ án cấp liên bang Regan vs King thời Đệ Nhị Thế Chiến.

 

NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN TẠI HOA KỲ VÀ VẤN ĐỀ NHẬP TỊCH

 

Đối với người Việt Nam ào ạt sang Hoa Kỳ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 qua các đợt di tản, vượt biên, bảo lãnh và chương trình HO đều được tuần tự nhập tịch và không ít người Việt xem nhận được quốc tịch Hoa Kỳ là một chuyện đương nhiên.  Nhưng với hiểu biết được hoàn cảnh lịch sử sự hình thành Tu Chánh Án 14, và sự tranh đấu của những người thiểu số như trong các vụ án được kể ở phần trên, không có gì “đương nhiên” cả.  

 

NGƯỜI VIỆT MAY MẮN

 

May mắn vì đã được những người thiểu số khác đi trước tranh đấu và trả giá cho những bất công xã hội về mặt luật pháp.  Rõ ràng, nếu không có những người nô lệ da đen chiến đấu hy sinh trong hàng ngũ Liên Quân Miền Bắc thời Nội Chiến Hoa Kỳ thì không có Tu Chánh Án 14, không có án lệ Dred Scotts vs Sanford, Wong Kim Ark, Regan vs King.  

 

Thử tưởng tượng, nếu không có những sự kiện vừa nêu, trong khi bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhất đang chờ đợi nhập tịch, thì bao nhiêu hậu duệ của người Việt tị nạn, vừa sinh ra không được thừa nhận quốc tịch và hưởng những ưu đãi dành cho công dân Hoa Kỳ?  Hoặc giả bao nhiêu hậu duệ trong độ tuổi vị thành niên không được “ăn theo” cha mẹ, khi cha mẹ vừa nhập tịch Hoa Kỳ, mà phải chờ đến 18 tuổi để thi quốc tịch, thì suốt trong những năm trung học hay đầu đại học không có quốc tịch thì bao nhiêu ưu tiên cho công dân Hoa Kỳ đến trường sẽ không tới tay họ.

 

Như vậy, liệu rằng lòng hãnh diện trước sự thành công trên con đường học vấn của thế hệ con cháu thứ hai và thứ ba có hay không?

 

Lịch sử cho thấy: Luật Pháp không là qui luật tuyệt đối.  Luật Pháp chỉ là qui ước xã hội được con người đặt ra và luôn có lỗ hổng.  Luật Pháp chỉ trở thành Công Lý và Anh Minh vì những nỗ lực hoàn thiện không ngừng qua sự tranh đấu của những người bị đối xử bất công vì những lỗ hổng đó.

 

Châm ngôn Việt có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  

 

Mai Phi-Long

 

(August, 2019)

   

 

Tham Khảo:

 

https://www.history.com/news/birthright-citizenship-history-united-states

 

https://www.nationalgeographic.com/culture/2018/10/birthright-citizenship-explainer-united-states-history/

 

https://www.britannica.com/topic/Chinese-Exclusion-Act

 

https://www.vox.com/2018/7/23/17595754/birthright-citizenship-trump-14th-amendment-executive-order

 

https://books.google.com/books?id=6oW0CgAAQBAJ&lpg=PA14&dq=wong%20kim%20ark%20test%20case&pg=PA14&_ga=2.78667024.547058710.1566804817-1169326936.1566483572#v=onepage&q=wong%20kim%20ark%20test%20case&f=false

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.