Hôm nay,  

Việt Nam cần một cuộc cách mạng?

31/08/201919:26:00(Xem: 4358)

Việt Nam cần một cuộc cách mạng?
 

Nguyễn Quang Duy
 

Bài viết trước “Thoát Trung mà thoát cái gì?...” nêu ý kiến các tổ chức đấu tranh hải ngoại nên chuyển đổi cách đấu tranh sang cạnh tranh chính trị, một số bạn đọc hỏi tôi vậy Việt Nam có cần một cuộc cách mạng khác không?

Cách mạng là thay đổi thể chế chính trị cũ bằng một thể chế chính trị mới tốt đẹp hơn, việc thay đổi có thể xảy ra qua nhiều giai đoạn và như thế theo tôi có thể có một cuộc cách mạng đang diễn ra tại Việt Nam.

  

5 cuộc cách mạng trước đây

Trong lịch sử cận đại đã có 4 cuộc cách mạng ở tầm vóc quốc gia:

Cách mạng mùa Thu 1945, chi bộ đảng Cộng sản và đảng Dân chủ cướp chính quyền Thủ tướng Trần Trọng Kim tại Hà Nội, rồi lan ra khắp nơi và kết thúc bằng việc vua Bảo Đại thoái vị.

Cách mạng Cộng Hòa, 26/10/1956, qua cuộc trưng cầu dân ý thay Quân Chủ bằng một nền Cộng Hòa do Thủ tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

Cách mạng 1/11/1963, quân đội đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa.

Khi nghĩ đến hai chữ cách mạng chúng ta thường nghĩ đến bạo động, vũ trang, lật đổ chính quyền, theo kiểu “được làm vua thua làm giặc”.

Vì thế ít ai ghi nhận cuộc cách mạng giành độc lập tiến hành qua nhiều giai đoạn từ năm 1947 đến tháng 12/1954 khi người Pháp rút khỏi Việt Nam trao trả hoàn toàn độc lập cho Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo.

Một cuộc cách mạng chính trị xã hội khác mang tầm vóc nhỏ hơn, hiện vẫn còn ảnh hưởng 7 triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo do Đức Huỳnh Phú Sổ lãnh đạo.

Về đạo lý cuộc cách mạng lấy Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo làm căn bản xây dựng xã hội.

Về chính trị Đức Thầy xây dựng một đảng chính trị với tên gọi Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng chủ trương chính trị toàn dân và chống độc tài dưới mọi hình thức làm nền tảng cách mạng.

 

Sau 30/4/1975…

Cộng sản thắng cuộc, nhưng mất lòng dân, hằng triệu người bỏ nước ra đi, tạo thế đối đầu giữa cộng sản Hà Nội và cộng đồng hải ngoại.

Năm 1986, thất bại kinh tế Hà Nội bắt buộc phải mở cửa giao thương với các quốc gia không cộng sản. Khi ấy nhiều người tin rằng thay đổi kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi chính trị.

Năm 1989, các quốc gia cộng sản Đông Âu và Liên Xô liên tiếp sụp đổ. Cuộc cách mạng tại các nước Đông Âu thường bắt đầu bằng việc xây dựng lực lượng đối lập, gây áp lực thay đổi thể chế chính trị và kết thúc bằng những cuộc xuống đường đông đảo người tham dự. Khi ấy người Việt trong và ngoài nước đều kỳ vọng thay đổi chính trị sẽ đến với Việt Nam.

Đáng tiếc, vào hai ngày 3 và 4/9/1990, Hà Nội và Bắc Kinh đã bí mật gặp nhau tại Thành Đô, Tứ Xuyên, bình thường hóa quan hệ ngoại giao và thu xếp rút bộ đội Việt Nam khỏi Kampuchia.

Hội nghị này diễn ra trong vòng bí mật, ngoài một số bài viết dưới dạng hồi ký, đến nay chưa có 1 văn kiện chính thức nào được giải mật.

Bởi thế mới có tin đồn Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch phản đối nội dung Hội Nghị và câu chuyện do blogger Kami sáng tác là vào năm 2020 (chỉ còn 4 tháng nữa) Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh tự trị của Trung cộng.

Hội Nghị chấm dứt, Hà Nội quyết định áp dụng mô hình phát triển kinh tế của Bắc Kinh, thay đổi kinh tế nhưng không hề thay đổi chính trị.

Bởi thế nội tình mới vướng vào những vấn nạn như tham nhũng, nhóm lợi ích, hủy hoại môi trường, chênh lệch giàu nghèo, bẫy thu nhập trung bình… còn về ngoại thương thì bị Tổng thống Donald Trump nêu đích danh là kẻ lợi dụng Mỹ tồi tệ nhất và đe dọa trừng phạt.

Nhưng nhờ ảnh hưởng Trung cộng, Hà Nội đã duy trì được thể chế độc đảng, mọi tổ chức độc lập đều bị đàn áp tiêu diệt, những người đấu tranh cho tự do dân chủ không bị bắt bớ tù đày thì cũng bị cô lập kinh tế và nhiều người đã phải bỏ nước ra đi.

 

Phía đối kháng hải ngoại…

Trong thập niên 1980, nhiều người Việt hải ngoại đã tìm cách quay về nước kháng chiến, nhiều tổ chức đấu tranh cách mạng đã được hình thành và phát triển.

Khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chiến tranh lạnh chấm dứt, bộ đội Việt Nam rút khỏi Kampuchia, Thái Lan không tiếp tục công nhận kháng chiến Việt Nam, con đường vũ trang cách mạng xem như chấm dứt.

Các tổ chức đấu tranh cách mạng lẽ ra nên chuyển đổi phương cách đấu tranh để thích hợp với môi trường hoạt động mới để từng bước trở thành những tổ chức chính trị, nhưng đáng tiếc vẫn tiếp tục duy trì văn hóa, nề nếp sinh hoạt như bước ban đầu.

Các tổ chức đến nay chỉ nên được xem là tổ chức đối kháng, có vũ trang hay không có vũ trang, không phải là tổ chức đấu tranh bất bạo động.

Vì đấu tranh bất bạo động đòi hỏi ba điểm cơ bản là (1) đấu tranh công khai (2) đấu tranh trong vòng luật pháp và (3) có tổ chức, có mục tiêu, có kế hoạch, có đường lối và có chiến lược rõ ràng.

Chính sách và chiến lược của các tổ chức đấu tranh cách mạng hiện nay đều không rõ hay không có.

Các tổ chức dễ dàng phát động các phong trào như “chúng tôi muốn biết” đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản phải giải trình và công bố thông tin.

Nhưng nếu có người đòi hỏi ngược lại muốn biết về tổ chức của họ thì thường đụng phải bức tường im lặng, có khi còn bị thảy nón cối “Việt cộng”, hay làm lợi cho “Việt cộng”.

Các tổ chức đều thiếu một lộ trình công khai và minh bạch, nên không tạo được niềm tin cho quần chúng, không thể đối thoại được với nhau, không tạo thành một lực lượng đối lập dù chỉ ở hải ngoại.

Vì thế cho đến nay vẫn không xây dựng được một lộ trình khả thi cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam hay đưa ra 1 giải pháp có thể thuyết phục được quần chúng.

Trong vài năm gần đây còn xuất hiện phong trào thoát Trung, kêu gọi biểu tình thậm chí kêu gọi tổng nổi dậy lật đổ cộng sản.

Trong khi những bước cần thiết để xây dựng một cuộc cách mạng thực sự mang đất nước đến tự do và dân chủ bị dậm chân tại chỗ không thể phát triển.

Về việc biểu tình phản đối Trung cộng lấn chiếm biển đảo Việt Nam, ở Úc đây là vai trò của cộng đồng, các cá nhân và tổ chức cần chia sẻ trách nhiệm chung.

Việc đòi hỏi Hà Nội phải công bố thông tin về Hội nghị Thành Đô là một điều đúng, nhưng nếu các tổ chức dựa trên tin đồn thiếu chứng cớ để “kích động” quần chúng “chống cộng” theo tôi là không nên.

 

Cuộc cách mạng đang diễn ra?

Khách quan nhận xét một lực lượng đối lập để hình thành một cuộc cách mạng như tại Đông Âu là một điều chưa thể xảy ra, nhưng không phải không thể xảy ra một cuộc cách mạng trong những ngày sắp tới.

Về quốc tế cuộc thương chiến Mỹ-Trung ngày càng khốc liệt, biểu tình Hồng Kông liên tục diễn ra, tranh chấp Biển Đông và bãi Tư Chính càng lúc càng nóng lên, nhiều dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tách khỏi ảnh hưởng của Trung cộng ngả về phía Hoa Kỳ.

Về nội trị, nỗi lo ngại lớn nhất mà giới cầm quyền Hà Nội thường xuyên công khai biểu lộ, được lấy làm trọng tâm Đại Hội 13, là tình trạng diễn biến hòa bình, tự diễn biến, tự chuyển hóa bên trong và bên trên đảng Cộng sản Việt Nam.

Nỗi lo ngại kế tiếp được cho thấy qua tiêu đề của cuộc Hội thảo “Vấn đề an ninh chính trị liên quan đến sự phát triển của các hội quần chúng trong nước và các hội, đoàn của người Việt Nam ở nước ngoài” vừa được Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội vào chiều 27/8/2019.

Cần nói rõ “các hội quần chúng” là các tổ chức có chân trong Mặt Trận Tổ Quốc, cánh tay nối dài của đảng Cộng sản. Hội thảo cho thấy các phần tử bên trong cánh tay này đang có vấn đề “an ninh chính trị”.

Trước bất công xã hội ngày một gia tăng, dân mất đất, môi trường sống bị hủy hoại và trước những lần lấn chiếm Thềm lục địa Việt Nam của Trung cộng một cuộc xuống đường rộng lớn dẫn tới một cuộc cách mạng vì thế rất có thể sẽ xảy ra.

Việc Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, DC, Maryland, và Virginia thách thức ông Nguyễn Phú Trong đối thoại với Cộng Đồng trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ sắp tới, biết đâu cuộc cách mạng sẽ xảy ra sớm hơn và ôn hòa hơn.

 

Cách mạng Lập Hiến

Những tổ chức những cá nhân yêu chuộng tự do và dân chủ vì thế cần sửa soạn để cuộc cách mạng nếu xảy ra sẽ thực sự mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam.

Ngoài việc tự cách mạng tổ chức để chuyển đổi từ các tổ chức đấu tranh cách mạng sang các tổ chức cạnh tranh chính trị.

Các tổ chức có nhiều công việc khác cần làm, như vận động quốc tế thúc đẩy nhà cầm quyền Hà Nội thay đổi thể chế chính trị, vận động quần chúng và thành phần cấp tiến trong đảng Cộng sản để thành lập một quốc hội lập hiến, soạn một hiến pháp tam quyền phân lập cho Việt Nam, tổ chức những cuộc bầu cử tự do với sự giám sát của quốc tế.

Các tổ chức ở hải ngoại cần sửa soạn đảm trách những công việc khác như vận động người hải ngoại tài trợ cho các cuộc xuống đường biểu tình hay đòi hỏi người hải ngoại phải được tham gia bầu cử và ứng cử.

Bài học của Cách mạng mùa Thu 1945 khiến 45 năm đất nước triền miên khói lửa chiến tranh, 74 năm lòng người chia cắt, đất nước càng ngày càng lụn bại, cho thấy mỗi người chúng ta cần tự đấu tranh tư tưởng thay đổi cách mạng kiểu “được làm vua thua làm giặc” thành một cuộc Cách mạng Lập Hiến, thực sự đưa đất nước đến tự do, dân chủ và giàu đẹp.
 

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

2/9/2019



 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.