Hôm nay,  

Ảnh Hưởng Quyền Quốc Tịch Theo Nơi Sinh Tại Hoa Kỳ Đối Với Cộng Đồng Người Việt

31/08/201915:32:00(Xem: 6946)

ẢNH HƯỞNG QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH
TẠI HOA KỲ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT

 
Mai Phi-Long

  

blankMai Phi Long

Trong bối cảnh chính trị hiện nay, những thuật ngữ liên quan đến di cư, di dân chợt bùng nổ trong xã hội Hoa Kỳ.  Trong đó có chữ “birthright”.

 

“Birthright” diễn dịch một cách đơn giản là “quyền có quốc tịch” theo nơi sinh.  Quyền quốc tịch vốn là một chủ đề phức tạp trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia.  Hơn ai hết, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, một đất nước được hình thành bởi nhiều chủng tộc, vấn đề quyền quốc tịch luôn luôn là trọng điểm ngay từ ngày lập quốc.

 

Một cách tổng quát, về nền tảng lý luận luật pháp: sự thành lập quyền quốc tịch của mọi quốc gia trên thế giới đều dựa trên hai khái niệm căn bản là “Jus Sanguinis” và “Jus Soli”.

  

 

KHÁI NIỆM “JUS SANGUINIS” VÀ “JUS SOLI”

 

 “Jus Sanguinis” có nghĩa là quyền theo huyết thống.  Tức là: Con sanh ra có quyền mặc nhiên thừa hưởng quốc tịch của cha hay mẹ.  Đây là khái niệm được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới.

 

“Jus Soli” có nghĩa là quyền quốc tịch theo nơi sanh.  Nhiều quốc gia áp dụng khái niệm cho quyền quốc tịch những ai sinh ra trên lãnh thổ. Hiện nay, có 30 quốc gia áp dụng khái niệm Jus Soli, trong đó có Hoa Kỳ.

 

Trong khi, không cần phải bàn cãi việc đưa ra luật quốc tịch dựa trên khái niệm “Jus Sanguinis”, tuy nhiên, khi áp dụng khái niệm “Jus Soli” thì các quốc gia hầu như phải tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

  

 

KHỞI THỦY QUYỀN CÔNG DÂN THEO NƠI SINH RA TẠI HOA KỲ CHỈ ÁP DỤNG CHO NGƯỜI DA TRẮNG

 

Năm 1787, Hiến Pháp Hoa Kỳ định nghĩa Công Dân là những người sinh ra tại hoặc nhập tịch Hoa Kỳ và những lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ.  Sau khi giành độc lập hoàn toàn từ Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ vẫn tiếp nhận những làn sóng di dân từ Âu Châu tiếp tục đổ vào. Do đó, nhu cầu thiết lập quyền công dân cần được nới rộng.  Luật nhập tịch năm 1790 viết rằng: “That any Alien being a free white person, who shall have resided within . . . the United States for the term of two years, may be admitted to become a citizen.”  Tạm dịch: “Những người da trắng tự chủ có thể được quyền công dân nếu sống tại Hoa Kỳ 2 năm.” Luật còn đòi hỏi người xin nhập tịch phải có nhân thân tốt và tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp Hoa Kỳ.  

 

Luật 1790 cũng cho phép con cái dưới 21 tuổi của những người này, dù không sinh ra tại Hoa Kỳ, cũng được cấp quyền công dân.  Luật trên được tu chính vào năm 1795 đòi hỏi thời gian cư trú là 5 năm, đây cũng là tiêu chuẩn trong nhiều năm sau này (ngoại trừ thay đổi vào năm 1798 đòi hỏi 14 năm, nhưng sang năm 1802 lại trở lại 5 năm).

 

Nhưng luật nhập tịch thời gian này không hề đá động đến hai nhóm dân đông đảo cùng hiện hữu tại xã hội Hoa Kỳ lúc ấy là “dân nô lệ” và những “thổ dân da đỏ”.  Những người thuộc hai  nhóm này không được xem là công dân Hoa Kỳ lúc đó.  Thật mỉa mai, người thổ dân da đỏ mới thật sự là chủ nhân Mỹ Châu và nền văn minh Inca phát triển rực rỡ trước khi Christopher Columbus chưa ra đời.  Còn những người gốc Phi Châu bị bắt cóc tại xứ sở của họ rồi bị đem lên các chuyến tàu của người Âu Châu chở sang Mỹ Châu bán làm nô lệ.

Sự thật lịch sử đó nêu rõ bản chất sự hình thành tinh thần kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ.

 

Ngoài ra, ít người chú ý hay biết về nạn kỳ thị lẫn nhau giữa những người da trắng gốc Âu Châu dù đây là một thực tế tệ hại trong thời kỳ đầu lịch sử Hoa Kỳ.  Người Anh và Tô Cách Lan theo Thanh Giáo, hay Tin Lành, qua trước, bạc đãi và hiếp đáp những người Ái Nhĩ Lan và Ý, theo đạo Công Giáo. Do đó, ngay từ sơ khai nền Cộng Hòa Bắc Mỹ, quyền quốc tịch của các di dân thường xuyên bị thách thức. 

 

Một trong những vụ án sớm nhất về quyền quốc tịch theo nơi sinh mà liên quan giữa sắc dân da trắng là vụ Lynch vs Clarke hồi năm 1844.  Trong vụ án này, quan tòa Lewis Sandford ra phán quyết một cô con gái, được sinh ra tại tiểu bang New York, có cha mẹ là di dân gốc Ái Nhĩ Lan, là công dân Hoa Kỳ.  Khi vụ án xảy ra, cha mẹ cô gái đã trở về cố quốc. Trong án lệnh, thẩm phán Sandford lập luận: “By the law of the United States, every person born within the dominions and allegiance of the United States, whatever were the situation of his parents, is a natural born citizen.”  Tạm dịch: “Chiếu theo luật của Hoa Kỳ, mỗi cá nhân sinh ra trong phạm vi chủ quyền và lãnh thổ của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, bất luận hoàn cảnh nào của cha mẹ, là công dân bẩm sinh.” 

 

Tuy nhiên, hệ thống tư pháp Hoa Kỳ lại không áp dụng “Jus Soli” trong trường hợp người liên quan không phải người da trắng.

  

 

NỘI CHIẾN NAM BẮC LÀM THAY ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH CHO NGƯỜI GỐC PHI CHÂU

 

Trong vụ án Dred Scott vs Sandford năm 1857, người đào thoát khỏi tay chủ nô Dred Scott, dòng dõi của nộ lệ từ Phi Châu được sinh ra tại Hoa Kỳ, không được xem là công dân.  Chánh án Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Roger B. Taney ra phán quyết: Không có bất ký dòng dõi nô lệ Phi Châu nào được xem là công dân ngay cả được sanh ra tại Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên, kết thúc cuộc nội chiến Nam Bắc với chiến thắng của phe Liên Quân Miền Bắc chống chế độ nô lệ đã làm tâm thức chủ nô ở Hoa Kỳ thay đổi.  Năm 1864, Bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ, Edward Bates, nối kết vấn đề quốc tịch theo nơi sinh với những chiến binh gốc nô lệ Phi Châu trong quân đội Liên Quân Miền Bắc đã khẳng định tất cả những người tự chủ da màu sinh ra tại lãnh thổ Hoa Kỳ đều là công dân.  Thời hậu chiến, Quốc Hội đã thông qua luật dân quyền ban quyền công dân cho tất cả những ai sinh ra tại Hoa Kỳ và những người đó không bị lệ thuộc trong vòng tài phán của bất kỳ quốc gia ngoại quốc nào.

 

Và theo trình tự phát triển xã hội sau cuộc Nội Chiến, đến lúc Hiến Pháp Hoa Kỳ, văn bản luật cao nhất của quốc gia, được cập nhật tình trạng quyền quốc tịch với Tu Chánh Án 14.

 

TU CHÁNH ÁN 14 XÁC ĐỊNH QUYỀN QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH TẠI HOA KỲ

 

Năm 1868, Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn thuận Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ áp dụng khái niệm “Jus Soli,” viết: 

 

 “All persons born or naturalized in the United States, and subject to the jurisdiction thereof, are citizens of the United States and of the state wherein they reside.” Tạm dịch: “Tất cả những ai sinh ra hoặc được nhập tịch Hoa Kỳ trong vùng thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ, là công dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và tiểu bang mà họ cư trú.”  

 

Như vậy, hiến pháp công nhận: Người nào sinh ra ở Hoa Kỳ và vùng lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ đều là công dân Hoa Kỳ. Chấm hết.   

 

Hệ luận: Cho dù cha mẹ không phải công dân Hoa Kỳ, con sinh ra trên đất Hoa Kỳ, là tự nhiên được hưởng quốc tịch Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên,Tu Chính Án 14 đặt ra một số miễn trừ đó là: Không áp dụng cho con cái sinh ra tại Hoa Kỳ của những viên chức ngoại giao ngoại quốc, thành viên quân ngoại bang chiếm đóng hoặc người thổ dân Mỹ Châu thuộc các chính quyền bộ lạc, vì các nhóm này “không thuộc quyền tài phán” của Hoa Kỳ.

 

Như vậy, luật quốc tịch theo nơi sinh ra không phải là kết quả của một sự kiện đơn giản mà được hình thành theo tiến trình tiến hóa thăng trầm của lịch sử đất nước Hoa Kỳ.  Sự anh minh công lý của luật pháp cũng phải trải qua một quá trình đào thải bất công.  

 

Hai mươi năm sau khi Tu Chánh Án 14 ra đời, một vụ án về hiến pháp lớn xảy ra năm 1898 liên quan đến một bộ luật đầy tính kỳ chủng tộc: Luật Miễn Hoa Kiều (Chinese Exclusion Act).

  

 

VỤ ÁN WONG KIM ARK

 

Wong Kim Ark, một đầu bếp, dòng dõi người Hoa, sinh ra tại Hoa Kỳ năm 1873.  Năm Wong 25 tuối, 1898, ông bị giữ lại không cho nhập cảnh tại San Francisco sau khi trở về từ Trung Hoa.

 

Vì sao?

 

Cho dù, Tu Chánh Án 14 ra đời năm 1868, nhưng 12 năm sau, năm 1882, luật Miễn Hoa Kiều- Chinese Exclusion Act cấm di dân từ Trung Hoa và cấm Hoa Kiều được nhập tịch Hoa Kỳ được thông qua.   Luật này bất chấp thực tế là hệ thống hỏa xa nối liền miền Đông và miền Tây, biểu tượng cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ đã thấm đầy mồ hôi và nước mắt của những người Trung Hoa từ thế kỷ 19.  

 

Khi bị từ chối nhập cảnh, Wong buộc phải sống trên một chiếc tàu hàng nằm tại vịnh San Francisco nhiều tháng trời trong khi chờ luật sư của ông khiếu nại về quyền công dân.  Câu hỏi mấu chốt là song thân của Wong Kim Ark không là công dân nhưng đương sự sinh ra tại Hoa Kỳ có được Tu Chánh Án 14 bảo vệ hay không?

 

Đặc biệt, vụ án này được Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ chọn thử nghiệm nhằm tạo tiền lệ rằng hậu duệ Hoa Kiều không phải là công dân.  Do đó, vụ án này đi thẳng lên Tối Cao Pháp Viện.

 

Điều không ngờ đã xảy ra một cách ngoạn mục: Wong thắng vụ kiện đối đầu với Bộ Tư Pháp.  Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Horace Gray luận giải: “The Fourteenth Amendment, in clear words and in manifest intent, includes the children born, within the territory of the United States, of all other persons, of whatever race or color, domiciled within the United States.” Tạm dịch: “Tu Chánh Án 14, bằng những ngôn từ rõ ràng và trong chủ ý, bao gồm các trẻ em sinh ra trong lãnh thổ của Hoa Kỳ, con của  bất kỳ người nào, chủng tộc hay màu da nào, đều hợp pháp trong lãnh thổ Hoa Kỳ.”

 

Thẩm Phán Horace Gray lập luận thêm rằng nếu để Tu Chánh Án 14 loại trừ quyền công dân của trẻ em được sinh tại Hoa Kỳ mà là con của công dân quốc gia khác thì quyền quốc tịch hàng ngàn trẻ em, trong tình trạng tương tự, bị đe dọa khi cha mẹ là công dân nước Anh, Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan, Đức, và các quốc gia Âu Châu khác.  Lập luận của Thẩm Phán Gray nêu rõ rằng ban quốc tịch cho một trẻ em người Mỹ gốc Hoa không đe dọa người Mỹ da trắng. Còn nếu tước quyền quốc tịch của Wong, thì về mặt luật pháp, sẽ đe dọa đặc ân quốc tịch mà những người Mỹ da trắng đang có.

 

Án lệ từ vụ kiện của Wong Kim Ark được vận dụng bảo vệ cho người Mỹ gốc Nhật bị đe dọa tước quốc tịch trong vụ án cấp liên bang Regan vs King thời Đệ Nhị Thế Chiến.

 

NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN TẠI HOA KỲ VÀ VẤN ĐỀ NHẬP TỊCH

 

Đối với người Việt Nam ào ạt sang Hoa Kỳ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 qua các đợt di tản, vượt biên, bảo lãnh và chương trình HO đều được tuần tự nhập tịch và không ít người Việt xem nhận được quốc tịch Hoa Kỳ là một chuyện đương nhiên.  Nhưng với hiểu biết được hoàn cảnh lịch sử sự hình thành Tu Chánh Án 14, và sự tranh đấu của những người thiểu số như trong các vụ án được kể ở phần trên, không có gì “đương nhiên” cả.  

 

NGƯỜI VIỆT MAY MẮN

 

May mắn vì đã được những người thiểu số khác đi trước tranh đấu và trả giá cho những bất công xã hội về mặt luật pháp.  Rõ ràng, nếu không có những người nô lệ da đen chiến đấu hy sinh trong hàng ngũ Liên Quân Miền Bắc thời Nội Chiến Hoa Kỳ thì không có Tu Chánh Án 14, không có án lệ Dred Scotts vs Sanford, Wong Kim Ark, Regan vs King.  

 

Thử tưởng tượng, nếu không có những sự kiện vừa nêu, trong khi bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhất đang chờ đợi nhập tịch, thì bao nhiêu hậu duệ của người Việt tị nạn, vừa sinh ra không được thừa nhận quốc tịch và hưởng những ưu đãi dành cho công dân Hoa Kỳ?  Hoặc giả bao nhiêu hậu duệ trong độ tuổi vị thành niên không được “ăn theo” cha mẹ, khi cha mẹ vừa nhập tịch Hoa Kỳ, mà phải chờ đến 18 tuổi để thi quốc tịch, thì suốt trong những năm trung học hay đầu đại học không có quốc tịch thì bao nhiêu ưu tiên cho công dân Hoa Kỳ đến trường sẽ không tới tay họ.

 

Như vậy, liệu rằng lòng hãnh diện trước sự thành công trên con đường học vấn của thế hệ con cháu thứ hai và thứ ba có hay không?

 

Lịch sử cho thấy: Luật Pháp không là qui luật tuyệt đối.  Luật Pháp chỉ là qui ước xã hội được con người đặt ra và luôn có lỗ hổng.  Luật Pháp chỉ trở thành Công Lý và Anh Minh vì những nỗ lực hoàn thiện không ngừng qua sự tranh đấu của những người bị đối xử bất công vì những lỗ hổng đó.

 

Châm ngôn Việt có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  

 

Mai Phi-Long

 

(August, 2019)

   

 

Tham Khảo:

 

https://www.history.com/news/birthright-citizenship-history-united-states

 

https://www.nationalgeographic.com/culture/2018/10/birthright-citizenship-explainer-united-states-history/

 

https://www.britannica.com/topic/Chinese-Exclusion-Act

 

https://www.vox.com/2018/7/23/17595754/birthright-citizenship-trump-14th-amendment-executive-order

 

https://books.google.com/books?id=6oW0CgAAQBAJ&lpg=PA14&dq=wong%20kim%20ark%20test%20case&pg=PA14&_ga=2.78667024.547058710.1566804817-1169326936.1566483572#v=onepage&q=wong%20kim%20ark%20test%20case&f=false

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.