Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hiệu Đính: Thánh Nữ Chân Kinh 聖女眞𦀇, một quyển sách dạy luân lý chăng, một tiếng kêu về sự xuống dốc văn hóa chăng?

18/09/201808:41:00(Xem: 3812)
Thánh Nữ Chân Kinh 聖女眞𦀇,
một quyển sách dạy luân lý chăng,
một tiếng kêu về sự xuống dốc văn hóa chăng?
 
Nguyễn Văn Sâm

 blank

 

 blank

(Hai trang nguyên bản của bài văn. Tài liệu sưu tầm của NVS)
 

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đất nước Việt Nam có những phong trào yêu nước nhưng thể hiện dưới một hình thức mà bề ngoài nhìn vô như là những sự nở rộ của chuyện mê tín dị doan. Trong Nam là các bài thơ rao giảng của những ông đạo ông sư lặn lội nơi thâm sơn của bảy Núi, U minh, Long Xuyên, Châu Đốc. Cụ thể là thơ của Đức Phật thầy Tây An, của Ông Sư Vãi Bán Khoai… Ngoài Bắc là những sách vở của những Đàn tuy quanh quẩn ở thủ đô Hà Nội nhưng ảnh hưởng thiệt nhiều đến nỗi lên thành một đạo nho nhỏ của một thời và kéo dài cho tới ngày nay vẫn còn: Đạo thờ mẫu với những bài văn được phát ra trong những buổi chầu văn. Các sách do những đàn nầy ấn hành hay chép tay toàn bằng chữ Nôm hiện còn tồn tại đó đây có thể thấy được chừng mươi quyển trong các thư viện chuyên môn.

Những bài rao giảng nầy tương truyền là được truyền ra từ miệng của những bà hầu đồng, trong những buổi lễ trang nghiêm mà đồng được một vị nào đó nhập vào, và hát lên. Xong buổi chầu văn thì người hầu đồng không còn nhớ gì về những bài văn mà mình vừa nói ra vì đó là một thánh mẫu nhập và phát ngôn, thường được gọi là thánh mẫu hay công chúa.

Tôi chú ý đến nội dung những bài văn đó nếu có dịp tiếp xúc với bản văn, bất kỳ là được khắc in hay được chép tay. Nội dung nầy rất dễ ấm lòng người đời sau như chúng ta: thường là khuyên trai yêu nước gái tứ đức tam tòng. Yêu nước là cách nói tổng quát như là làm trai cho xứng tài trai. Không khai triển thêm tại sao phải yêu nước, cũng không nói đến sự có mặt của người Pháp đương giật dây triều đình và đương chủ trương một chế độ bóc lột trên đất nước Việt Nam. Nhưng chắc chắn người lúc đó đã hiểu.

Với dòng thời gian cả trăm năm, với bi kịch đất nước loạn lạc triền miên, với sự thất thế của chữ Nôm, những bài văn nói trên thiệt ít có cơ hội tồn tại. Chúng tôi may mắn được sở hữu một quyển sách chép tay loại nầy của một vị hiệu là Để Nghi (弟) chép năm Bảo Đại thứ năm (1930) tựa là Thánh Nữ Chân Kinh (聖女眞𦀇).
 

Sách gồm 20 tờ đôi khổ nhỏ, chữ Nôm viết chân phương, có thể là dụng ý của người sao chép để cho sách được phổ biến rộng rãi. Trong nầy ngoài lời tựa còn có những bài   thơ  bài văn khi thì Hán khi thì Nôm của những công chúa, thánh mẫu như: 

Đệ tam Thánh mẫu (bài Đệ Tam Thánh Mẫu Giới Khẩu Quá Ca nghĩa là bài ca của Đệ Tam Thánh Mẫu dạy răn về  tránh lỗi lầm từ miệng người ta mà ra.)

Đệ Nhất Thánh Mẫu (bài Hội Đào Lý Thiên Luân), Đệ Nhị Thánh Mẫu (bài nói về phận đàn bà).

Cũng  thấy một bài khác tựa là Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu Ca, vậy thì bà Đệ Nhất Thánh Mẫu có hiệu là Vân Hương.

Liên Hoa Công Chúa Ca.

Giám Thương Công chúa Tự Tự thi.

Đệ TamThánh Mẫu sương phụ ngâm.

Mai Hoa Công chúa tuế hàn tri tùng bách ngâm.   

Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu Thi.

Những bài trên đại ý tương tự nhau cũng đều là dạy con người ăn ở cho phải đạo. Tôi xin phiên âm bài đầu. Trong tương lai nếu có hoàn cảnh sẽ phiên âm những bài còn lại. Xin nhắc đây là bản văn độc nhứt vì nguyên tác là bản viết tay. Bài nầy giúp ích cho người làm văn hóa  thiệt nhiều mặt trong đó có sự giúp hiểu về những bài văn có được ở những buổi ngồi đồng của đạo thờ Mẫu mà ta có thể tin tưởng là nguyên văn, sự hiểu biết về lòng thiết tha của người đầu thế kỷ 20 trong việc dạy dỗ con cái nhứt là con gái.


 

Đệ Tam Thánh Mẫu Giới Khẩu Quá Ca.

Con người ta hay nhằm hay lỗi,

Cho nên nhiều đôi chối đôi co.

Sự nhỏ to sự chi cũng vậy,

Khuyên nhau rằng chớ lấy làm khinh.

Người xưa giữ miệng như bình,

Há rằng người trọng người khinh tơ hào.

Dẫu trên dưới người nào cũng vậy.

Nói dễ ra không lấy được vào.

Hỏi rằng là cớ làm sao,

Chỉ vì miệng nói bụng nào nghĩ cho.

Nói hết cay chua mặn chát,

Sau rồi là lạt lạt như không,

Miệng mà ở chẳng như lòng,

Ăn càn nói rỡ nào hòng về sau.

Khuyên ai đấy ở đâu cũng vậy,

Cứ nghe lời ta dạy mà theo.

Một là dạy chớ nhiều điều,

Hai là dạy chớ có nhiều đong đưa,

Ba là dạy đi trưa về sớm,

Chớ đàn hòa nên xóm thị phi.

Bốn là dạy khi đi lễ bái,

Cứ tâm tâm mà khấn bái Bụt Trời,

Chớ hề nhiều tiếng nhiều lời,

Phúc thời chưa thấy tội thời thấy ngay.

Năm là dạy từ thời còn bé,

Ăn nói cho có lễ có nghi,

Thờ cha kính mẹ đình vi.

Mẹ cha có hỏi con thì sẽ thưa,

Sáu là dạy khi đưa khi đón,

Mẹ cha chồng thời nhẽ nhỏ to.

Chớ hề khi bán khi mua.

Rằng nhiều rằng ít, xem chì xem khinh.

Bảy là dạy nghe kinh tụng niệm,

Cứ chăm chăm khuya sớm chuyên cần,

Chớ hề miệng nói lăng nhăng.

Rồi mà điều được điều chăng ích gì.

Tám là dạy khi đi bè bạn,

Hễ mau thân thời chóng chán nhau.

Chớ hề nói trước nói sau,

Nói thời sẽ nói ai hầu dám khinh.

Chín là dạy lấy mình làm trước.

Ở làm sao cho được như lời.

Đừng ai chê đừng ai cười,

Mười điều giữ được cả mười như kinh.

Mười là dạy thất tình hỉ nộ,

Dẫu mừng vui chớ có nói càn.

Nói được tội, nói được quan,

Một lời ta nói thiệt quan hệ nhiều.

Hễ ai giữ được mười điều,

Thời là người ấy khá theo thánh hiền.

Mấy câu niệm bức hoa tiên,

Nôm na kể hết một thiên chuyện đời.

 

Bài văn suông sẻ, gieo vần không lạc vận, ý tứ trôi chảy chẳng lập đi lập lại. Dạy ăn nói lựa lời, dạy đối đãi  với chồng, với cha mẹ mình, với cha mẹ chồng… Là bài học tốt cho mọi người. Người phiên âm không tin tưởng mấy rằng đây là lời của một Bà Thánh khuất mày khuất mặt hiện vong về nhập vào bà đồng bà cốt để dạy đời. Tôi nghĩ rằng (1) để tạo thêm sự tin tưởng nơi quần chúng bình dân, (2) để tránh sự dòm ngó của chánh quyền thực dân, những người trí thức thời đó đã dùng phương tiện đồng bóng, đạo mẫu để đưa ra những điều răn dạy có ích cho văn hoá nói chung, rồi thỉnh thoảng đưa ra xa gần vài ba câu yêu nước thương nòi rất ích lợi cho việc bảo vệ sự tồn tại của dân tộc.

Bài văn dễ hiểu. Chỉ có hai chữ đình vi hơi khó khăn, áp dụng vào sự săn sóc cha mẹ có nghĩa là lo chăm sóc cha mẹ lúc hai ngài thong thả bình thường  và cả khi đi ngủ. Câu ‘nói được tội nói được quan’ có nghĩa là lời nói phải khôn ngoan, nói bậy có khi mang họa vào thân, nói khôn ngoan thì được kính nể, vẻ vang… Câu đơn giản như vậy không phải là người có học nhiều không thể sáng tác được.

Đặt trường hợp những bài văn trong Thánh Nữ Chân Kinh là những bài của một tác giả nổi tiếng, như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, hay Tản Đà Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh thì chắc chắn rằng thiên hạ đã biết nhiều và đã truyền tụng lâu nay. Tiếc thay không phải trường hợp nầy.

Năm 1930, chữ quốc ngữ đã lớn mạnh, đã vươn vai Phù Đổng đến được với quảng đại quần chúng, những bài văn Nôm như thế nầy hứng chịu sự thua  thiệt nhiều mặt trong sự phổ biến, chúng tôi phiên âm, giới thiệu  để đưa ra ánh sáng hầu chúng ta hiểu hơn mặt văn hóa Việt Nam thời nó xuất hiện mà tôi được có duyên để được tiếp xúc…. 

(Victorville, CA, tháng 9, 2018)

Hiệu Đính: 19/9/2018

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.