Hôm nay,  

Hiệu Đính: Thánh Nữ Chân Kinh 聖女眞𦀇, một quyển sách dạy luân lý chăng, một tiếng kêu về sự xuống dốc văn hóa chăng?

18/09/201808:41:00(Xem: 8874)
Thánh Nữ Chân Kinh 聖女眞𦀇,
một quyển sách dạy luân lý chăng,
một tiếng kêu về sự xuống dốc văn hóa chăng?
 
Nguyễn Văn Sâm

 blank

 

 blank

(Hai trang nguyên bản của bài văn. Tài liệu sưu tầm của NVS)
 

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đất nước Việt Nam có những phong trào yêu nước nhưng thể hiện dưới một hình thức mà bề ngoài nhìn vô như là những sự nở rộ của chuyện mê tín dị doan. Trong Nam là các bài thơ rao giảng của những ông đạo ông sư lặn lội nơi thâm sơn của bảy Núi, U minh, Long Xuyên, Châu Đốc. Cụ thể là thơ của Đức Phật thầy Tây An, của Ông Sư Vãi Bán Khoai… Ngoài Bắc là những sách vở của những Đàn tuy quanh quẩn ở thủ đô Hà Nội nhưng ảnh hưởng thiệt nhiều đến nỗi lên thành một đạo nho nhỏ của một thời và kéo dài cho tới ngày nay vẫn còn: Đạo thờ mẫu với những bài văn được phát ra trong những buổi chầu văn. Các sách do những đàn nầy ấn hành hay chép tay toàn bằng chữ Nôm hiện còn tồn tại đó đây có thể thấy được chừng mươi quyển trong các thư viện chuyên môn.

Những bài rao giảng nầy tương truyền là được truyền ra từ miệng của những bà hầu đồng, trong những buổi lễ trang nghiêm mà đồng được một vị nào đó nhập vào, và hát lên. Xong buổi chầu văn thì người hầu đồng không còn nhớ gì về những bài văn mà mình vừa nói ra vì đó là một thánh mẫu nhập và phát ngôn, thường được gọi là thánh mẫu hay công chúa.

Tôi chú ý đến nội dung những bài văn đó nếu có dịp tiếp xúc với bản văn, bất kỳ là được khắc in hay được chép tay. Nội dung nầy rất dễ ấm lòng người đời sau như chúng ta: thường là khuyên trai yêu nước gái tứ đức tam tòng. Yêu nước là cách nói tổng quát như là làm trai cho xứng tài trai. Không khai triển thêm tại sao phải yêu nước, cũng không nói đến sự có mặt của người Pháp đương giật dây triều đình và đương chủ trương một chế độ bóc lột trên đất nước Việt Nam. Nhưng chắc chắn người lúc đó đã hiểu.

Với dòng thời gian cả trăm năm, với bi kịch đất nước loạn lạc triền miên, với sự thất thế của chữ Nôm, những bài văn nói trên thiệt ít có cơ hội tồn tại. Chúng tôi may mắn được sở hữu một quyển sách chép tay loại nầy của một vị hiệu là Để Nghi (弟) chép năm Bảo Đại thứ năm (1930) tựa là Thánh Nữ Chân Kinh (聖女眞𦀇).
 

Sách gồm 20 tờ đôi khổ nhỏ, chữ Nôm viết chân phương, có thể là dụng ý của người sao chép để cho sách được phổ biến rộng rãi. Trong nầy ngoài lời tựa còn có những bài   thơ  bài văn khi thì Hán khi thì Nôm của những công chúa, thánh mẫu như: 

Đệ tam Thánh mẫu (bài Đệ Tam Thánh Mẫu Giới Khẩu Quá Ca nghĩa là bài ca của Đệ Tam Thánh Mẫu dạy răn về  tránh lỗi lầm từ miệng người ta mà ra.)

Đệ Nhất Thánh Mẫu (bài Hội Đào Lý Thiên Luân), Đệ Nhị Thánh Mẫu (bài nói về phận đàn bà).

Cũng  thấy một bài khác tựa là Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu Ca, vậy thì bà Đệ Nhất Thánh Mẫu có hiệu là Vân Hương.

Liên Hoa Công Chúa Ca.

Giám Thương Công chúa Tự Tự thi.

Đệ TamThánh Mẫu sương phụ ngâm.

Mai Hoa Công chúa tuế hàn tri tùng bách ngâm.   

Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu Thi.

Những bài trên đại ý tương tự nhau cũng đều là dạy con người ăn ở cho phải đạo. Tôi xin phiên âm bài đầu. Trong tương lai nếu có hoàn cảnh sẽ phiên âm những bài còn lại. Xin nhắc đây là bản văn độc nhứt vì nguyên tác là bản viết tay. Bài nầy giúp ích cho người làm văn hóa  thiệt nhiều mặt trong đó có sự giúp hiểu về những bài văn có được ở những buổi ngồi đồng của đạo thờ Mẫu mà ta có thể tin tưởng là nguyên văn, sự hiểu biết về lòng thiết tha của người đầu thế kỷ 20 trong việc dạy dỗ con cái nhứt là con gái.


 

Đệ Tam Thánh Mẫu Giới Khẩu Quá Ca.

Con người ta hay nhằm hay lỗi,

Cho nên nhiều đôi chối đôi co.

Sự nhỏ to sự chi cũng vậy,

Khuyên nhau rằng chớ lấy làm khinh.

Người xưa giữ miệng như bình,

Há rằng người trọng người khinh tơ hào.

Dẫu trên dưới người nào cũng vậy.

Nói dễ ra không lấy được vào.

Hỏi rằng là cớ làm sao,

Chỉ vì miệng nói bụng nào nghĩ cho.

Nói hết cay chua mặn chát,

Sau rồi là lạt lạt như không,

Miệng mà ở chẳng như lòng,

Ăn càn nói rỡ nào hòng về sau.

Khuyên ai đấy ở đâu cũng vậy,

Cứ nghe lời ta dạy mà theo.

Một là dạy chớ nhiều điều,

Hai là dạy chớ có nhiều đong đưa,

Ba là dạy đi trưa về sớm,

Chớ đàn hòa nên xóm thị phi.

Bốn là dạy khi đi lễ bái,

Cứ tâm tâm mà khấn bái Bụt Trời,

Chớ hề nhiều tiếng nhiều lời,

Phúc thời chưa thấy tội thời thấy ngay.

Năm là dạy từ thời còn bé,

Ăn nói cho có lễ có nghi,

Thờ cha kính mẹ đình vi.

Mẹ cha có hỏi con thì sẽ thưa,

Sáu là dạy khi đưa khi đón,

Mẹ cha chồng thời nhẽ nhỏ to.

Chớ hề khi bán khi mua.

Rằng nhiều rằng ít, xem chì xem khinh.

Bảy là dạy nghe kinh tụng niệm,

Cứ chăm chăm khuya sớm chuyên cần,

Chớ hề miệng nói lăng nhăng.

Rồi mà điều được điều chăng ích gì.

Tám là dạy khi đi bè bạn,

Hễ mau thân thời chóng chán nhau.

Chớ hề nói trước nói sau,

Nói thời sẽ nói ai hầu dám khinh.

Chín là dạy lấy mình làm trước.

Ở làm sao cho được như lời.

Đừng ai chê đừng ai cười,

Mười điều giữ được cả mười như kinh.

Mười là dạy thất tình hỉ nộ,

Dẫu mừng vui chớ có nói càn.

Nói được tội, nói được quan,

Một lời ta nói thiệt quan hệ nhiều.

Hễ ai giữ được mười điều,

Thời là người ấy khá theo thánh hiền.

Mấy câu niệm bức hoa tiên,

Nôm na kể hết một thiên chuyện đời.

 

Bài văn suông sẻ, gieo vần không lạc vận, ý tứ trôi chảy chẳng lập đi lập lại. Dạy ăn nói lựa lời, dạy đối đãi  với chồng, với cha mẹ mình, với cha mẹ chồng… Là bài học tốt cho mọi người. Người phiên âm không tin tưởng mấy rằng đây là lời của một Bà Thánh khuất mày khuất mặt hiện vong về nhập vào bà đồng bà cốt để dạy đời. Tôi nghĩ rằng (1) để tạo thêm sự tin tưởng nơi quần chúng bình dân, (2) để tránh sự dòm ngó của chánh quyền thực dân, những người trí thức thời đó đã dùng phương tiện đồng bóng, đạo mẫu để đưa ra những điều răn dạy có ích cho văn hoá nói chung, rồi thỉnh thoảng đưa ra xa gần vài ba câu yêu nước thương nòi rất ích lợi cho việc bảo vệ sự tồn tại của dân tộc.

Bài văn dễ hiểu. Chỉ có hai chữ đình vi hơi khó khăn, áp dụng vào sự săn sóc cha mẹ có nghĩa là lo chăm sóc cha mẹ lúc hai ngài thong thả bình thường  và cả khi đi ngủ. Câu ‘nói được tội nói được quan’ có nghĩa là lời nói phải khôn ngoan, nói bậy có khi mang họa vào thân, nói khôn ngoan thì được kính nể, vẻ vang… Câu đơn giản như vậy không phải là người có học nhiều không thể sáng tác được.

Đặt trường hợp những bài văn trong Thánh Nữ Chân Kinh là những bài của một tác giả nổi tiếng, như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, hay Tản Đà Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh thì chắc chắn rằng thiên hạ đã biết nhiều và đã truyền tụng lâu nay. Tiếc thay không phải trường hợp nầy.

Năm 1930, chữ quốc ngữ đã lớn mạnh, đã vươn vai Phù Đổng đến được với quảng đại quần chúng, những bài văn Nôm như thế nầy hứng chịu sự thua  thiệt nhiều mặt trong sự phổ biến, chúng tôi phiên âm, giới thiệu  để đưa ra ánh sáng hầu chúng ta hiểu hơn mặt văn hóa Việt Nam thời nó xuất hiện mà tôi được có duyên để được tiếp xúc…. 

(Victorville, CA, tháng 9, 2018)

Hiệu Đính: 19/9/2018

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.