Hôm nay,  

Người Đàn Ông Mù Và Tiếng Đàn Violin

20/03/201800:00:00(Xem: 5584)
Lacey

Về một bài thơ của  thi sỹ đoạt giải thơ Mỹ tên Ocean Vương của người tỵ nạn Việt Nam.

***

Ocean Vương sinh năm  1988 ở Sàigòn, đến Mỹ năm 1990,  vì có vấn đề y khoa nên 11  tuổi mới đi học
Là một thi sĩ và văn sĩ, sống ở New York City
Trong số nhiều giải thưởng nhận được, năm 2016, Ocean Vương thắng giải  Stanley Kunitz Prize dành cho Thi sĩ Trẻ.
Tập thơ nổi tiếng của anh có tên :  “ Night Sky with Exit Wounds”

& & &

Trên chuyến xe lửa vội vã .  Một người đàn ông mù
loạng chọang bước tới trước, cây gậy của ông ta đập đập nhè nhẹ
dò dẫm hết lối đi.  Ông ta dựa vào cánh cữa tàu,
.
Đưa cái đàn violin lên cằm, và nói tôi xin lỗi
làm phiền ông bà anh chị.  Nhưng xin làm ơn. Chỉ xin lắng nghe.
và tôi chết trong lòng vì tiếng xin lỗi đó.  Và giống như một cái gì đó đồng dạng với âm nhạc
.
nên được thứ tha.  Ông áp má vào gỗ cây đàn như vào người mình yêu
hít một hơi sâu và, và ngay đầu cái kéo dâu chậm, tiếng đàn vút lên cao
thấm vào da của chúng tôi như nước ấm, chúng tôi
những người không có gì trừ điểm đến, những người mơ về ánh sáng
nhưng rơi xuống vào miệng của những đường hầm, tìm kiếm.
Những hột mồ hôi rơi từ lông mày của ông ta, tạo thành những bông hồng màu đen xẩm
.
trên cây đàn.  Cái đầu của ông ta rung động theo từng âm giai
thoát ra qua lỗ trống của thân cây đàn.  Người đàn bà bên cạnh tôi
để quyển sách đọc xuống, nhắm mắt mình lại, đứa bé
ngưng khóc, người cảnh sát ngồi xuống ghế, và tôi biết
chiếc xe lửa này quá nhanh cho giấc mơ, cái hàm sắt này
sẽ luôn mở rộng ra để nuốt chửng nụ cười đã bị mất.
Ký ức này thiếu ...ra sao khi thất bại trước cái chết.
Sẽ nghe những nốt nhạc này ra sao khi con tàu lướt đi
Vào sân ga, khi đèn sáng lên, và bài nhạc
còn vương vấn trong hơi thở dâng lên từ chỗ ghế trống?
Tôi biết mình quá phàm tục để ca ngợi những gì đang phai mờ đi.
Nhưng ngay bây giờ đây, tôi chỉ muốn lắng nghe khi con tàu chứa đầy
hoàn toàn với nứơc ấm, và tất cả chúng ta
lội bơi chậm chạp hướng đến người đàn ông với tiếng nhạc của Mozart
tuôn chảy ra từ bàn tay mình.  Tôi không muốn gì
ngoài việc cho ngón tay của mình vào miệng của ông ta,
để lời cầu nguyện ngân nga qua đường gân máu của mình.

***

Bây giờ, xin mời các bạn đọc lời bình phẩm, trong đó có tập thơ “ Night Sky With Exit Wounds” của Ocean Vuong do MICHIKO KAKUTAMI viết – May  09, 2016 - Books of The Times

Một trong những bài thơ gây xúc động mạnh trong tập thơ xuất xắc mới viết này, Ocean Vuong đặt kề bên hình ảnh náo loạn của Sàgòn ngày 30 tháng Tư , 1975 với lời bài nhạc của Irving Berlin trong “White Christmas” – bài ca này đã được Đài Quân Đôi Mỹ phát đi ngày đó, báo hiệu cho cuộc di tản ra khỏi VN bắt đầu:

“Ngọn cây lấp lánh và trẻ con lắng nghe, viên cảnh sát trưởng/gục mặt xuống một vũng Coca-Cola./Một tấm hình cỡ bằng bàn tay ướt sũng/năm bên cạnh lỗ tai trái của  mình.”

Trong khi Bing Crosby ngâm nga lời cầu chúc lành trong bài ca, “Chúc mọi Ngày Giáng Sinh của bạn toàn tuyết trắng,” thì bầu trời Saìgòn bị xé vụn bởi lửa đạn, “ Một chiếc quân xa chay nhanh qua ngã tư, trẻ con/la hét bên trong xe./Một chiếc xe đạp phóng tới/ xuyên qua cữa một căn tiệm” và “ tiếng chân chạy đầy công viên như đá/ rớt từ trên trời xuống.”

Bài thơ “Aubade With Burning City” dưạ vào ký ức của cụ bà của Vuong , bà nhớ lại lại khi Sàigòn “ sụp đổ trong khi bài ca về tuyết còn vang.”  Bà lấy một người lính Mỹ, và trong một bài thơ khác, Vương trầm ngâm về cái mĩa mai của chiến tranh: Nếu mà ông và bà của anh không bao giờ gặp nhau thì anh và má của anh sẽ không có mặt trên đời: “ Như vậy thì không có bom = không có gia đình = không có tôi.”

Sinh ra ở vùng đồng ruộng ngọai ô Sàigòn năm 1988, Vương, người thắng Giải thơ Whiting Award for Poetry, đến Mỹ lúc hai tuổi , sau hơn một năm trong trại tỵ nạn ở Phi.  Anh là người đầu tiên trong gia đình học đọc chữ nhưng khi nhỏ thường được nghe bà của mình kể chuyện cổ tích dân gian và thơ của anh lấy âm điệu nhạc tính từ lối văn kể truyền miệng đó và phối hợp một cách tuyệt khéo với tiếng Anh mà mình yêu mến.

Những bài thơ trong tập thơ mới đây của anh, tập “Night Sky With Exit Wounds” (Trời Đêm với những Vết Thương Trổ Ra)  - và hai tập trước đó ( “No” và Burnings”) - chứa trong đó hồi ức chính xác trải dài thi phẩm của nữ thi sĩ Emily Dickinson, kết hợp với sự cam khích về âm thanh và tiết nhịp của từ ngữ giống như của Gerard Manley Hopkins. Vương có thể tạo nên những hình ảnh đáng cho ta kinh ngạc  như: “cây đàn piano màu đen trong đồng cỏ, tượng nhỏ cặp vợ chồng cắm trên bánh cưới cất dưới mặt kiếng, một người chăn cừu bước ra từ tranh của Caravaggio” và anh tạo những yên lặng hay tạo những “biến ngữ” có tác dụng nói lên sức  mạnh mẻ cho lời nói cũng như cho từ ngữ của mình.

Có một một xúc động mạnh như sóng dập mạnh vào bờ trong những bài thơ này thoát ra từ sự thành thật và trung thực của Vương và từ khả năng của anh bắt được những giây phút thời gian cả hai sự trong sáng như nhiếp ảnh và một cảm giác hoài niệm về tất cả những hiện hữu ở cỏi phàm trần.  Dù cho anh đang viết về chiến tranh hay về gia đình hay về tình dục, có một báo hiệu không hay bnào đó về sự mất mát – tạo nên bởi bạo lực, bởi sự hiểu lầm hay chỉ giản dị như cái khoản tích tắc của cuốn lịch và cái đồng hồ.

Vương viết với tích cách của một di dân và của một người đồng tính và thơ của anh bắt được cái ý nghĩa của một “kẻ đứng bên ngòai” (một “con thú bị ruồng bỏ/ khỏi chiếc thuyền chở chúng sanh”) và cái lịch sử hung tợn đầy thành kiến của Mỹ quốc, nơi mà     “ cây cối biết/ sức nặng của lịch sử.” Anh viết về những chuyến hải hành trên biển cuồng phong mà người đi phải chịu khi tìm đường tới Mỹ – những chuyến hải hành đem lại trong trí hình ảnh của những cuộc hành trình tìm sống mang đầy hy vọng và đoạn đường trung gian phải chịu đựng của những nô lệ. -  và anh mô tả traị tỵ nạn như là : “ ngạt thở vì khói thuốc  & những bài thánh ca/ đựơc hát nữa chừng.”

Nhiều nhân vật trong tác phẩm của anh bị ám ảnh bởi những ký ức  (hay do nghe người khác kể lại) về cuộc chiến tranh Việtnam mà gia đình anh phải chịu... Trong thơ của Vương, những hình thành của cuộc sống hằng ngày, ở Việtnam cũng như ở Mỹ, bị liên tục xé rời bởi những xâm nhập thô bạo của bạo lực- do từ trên trời xuống bởi phi cơ trực thăng đổ quân ‘Hey’ hay bởi hoả tiển Tomahawk; hay từ họng súng của AK-47 hay từ khẩu Colt.45; hay từ cái tát t ay ngược của người đàn ông vào mặt người vợ và từ việc “đem cái cái cưa máy lại cái bàn ăn.”

Tiếng súng như Vương viết trong một bài thơ: “ chỉ là âm thanh của người ta/ cố kéo dài sự sống hơn chút nữa/  không được.”  Trong một bài thơ khác nhắc ta nhớ lại bài thơ “ Musée des Beaux-Ats” của Auden, anh diển tả một gia đình bỏ đi trong khi thành hố còn cháy âm ĩ : “ Dù vậy đây là một buổi sáng mùa xuân tuyệt đẹp.  Hoa chùm trắng thở hổn hển trong sân cỏ toà đại sứ.  Bầu trời màu xanh của tháng Chín – xanh như bầu trời của New York hôm 11,  tháng Chín, chúng tôi phải liên tưởng như vậy -  “đám bồ câu tiếp tục mổ nhặt mảnh vụn bánh mì rơi rớt từ tiệm bánh bị bom rớt trúng.  Bánh mì gãy khúc.  Bánh sừng trâu bị vụn nát.  Xe hơi bị banh ruột.  Mấy con ngựa gỗ  trong khu giải trí bị cháy đen.”

Từ ngữ “ thân người” đến nhiều lần trong nhưng bài thơ này mang ý nghĩa cí dễ vở của cuộc sống con người và sự thật khó thay đổi nổi của cái chết nhưng cũng là những cái có thể của sự đam mê.  Chủ đề ta thường  gặp khác trôi nổi một cách du dương xuyên qua tấp thơ này có liên quan đến sự liên hệ giả dối giữa cha và con, những chuyến vượt biển của thuyền nhân và mảnh lực khêu gợi lên của từ ngữ.  

Vương tên thật là Vinh Quốc Vương nhưng má của anh đặt tên lại cho anh là Ocean sau khi tới Mỹ và trong những bài thơ này, ‘biển cả’ trở thành một ẩn dụ cho sự tái sanh và biến đổi con người. Có một vài ám chỉ đến tác phẩm “Tempest” của đại văn hào Shakepseare tring những trang về sự khả hữu của một “ thay đổi như biển”, và khả năng mê hoặc của phù thủy Prospero.  Tập thơ này  là một chứng minh tuyệt vời cho khả năng ủa Vương trong việc dùng ma thuật của ngôn ngữ để triệu hồi và duy trì quá khứ – làm cho “xương cốt trở thành thơ ”  và bằng cách đè ngòi viết lên giấy đã chạm và khơi dậy  gia đình của mình “ trở lại từ miền tuyệt chủng.”  
Lacey – Ngày đầu năm Mậu Tuất - ttt



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.