Hôm nay,  

Françoise Sagan, Một Hiện Tượng Trong Văn Học Pháp Hậu Chiến

11/11/201700:00:00(Xem: 9407)
Nguyễn Thị Cỏ May

 
Đọc Françoise Sagan ở Sài gòn thì nay phải là những người trên dưới 80 tuổi.  Nhắc lại Françoise Sagan vì nay là mùa thu thứ 13 bà mất.

Lớp độc giả của Françoise Sagan chắc hãy còn nhớ, đầu thập niên 50, ở Sài gòn, các trường học còn dạy chương trình pháp, theo Pháp hẳn như Trung học bắt đầu bằng 6e, 5e,... tới 1ère, thi Tú Tài I và Terminale, thi Tú Tài II. Hoặc theo chương trình Đông dương, Trung học bắt đầu bằng 1ère Année, 2è Année,... 4è Année thi Diplôme (DEPSI - Bằng Cao Tiều Đông dương), xong lên 2è,... thi Tú Tài như chương trình pháp thật sự. Sau đó, khi các trường ngoài Bắc di cư vào Nam, Sài gòn mới có nhiều trường dạy Đệ Thất, Đệ Lục,.. và thi Tú Tài Việt nam, cũng với 3 Ban Triết, Khoa học và Toán. Học sanh chương trình Việt nam, Ban Văn chương thuở đó đều dư sức đọc truyện Tây hoặc Ăng-lê.

Năm 1956 - không biết nhớ có đúng không - thanh niên Sài gòn có dịp làm quen với Françoise Sagan qua truyện đầu tay của bà "Bonjour Tristesse!" (Buồn ơi, chào mi! " (Nhà báo Nguyễn Vỹ dịch), do nhà Julliard ở Paris xuất bản lần đầu tiên năm 1954. Tiếp theo là Un certain sourire, Dans un moi, dans un an, Aimez-vous Brahms?,… Dĩ nhiên chỉ một số ít mà thôi.

Truyện "Bonjour Tristesse!" bán hằng triệu bản, dịch ra 20 thứ tiếng, trở thành best-seller năm bà mới 19 tuổi. Và Françoise Sagan được thế giới biết như một hiện tượng văn học Pháp thời hậu chiến.

Nhỏ học dở, lớn hiển hách!

"Luân lý giáo khoa thư" (sách lớp Tư chương trình Đông dương) dạy rằng "Rừng nhu biển  thánh khôn dò, Nhỏ mà không học, lớn mò sao ra". Françoise Sagan lúc nhỏ tuy có đi học nhưng là một học sanh ham chơi hơn ham học. Bị đuổi khỏi trường Louise de Bettengnies ở khu sang của Paris XVII, bà được gia đình đưa vào trường bà Sơ Couvent des Oiseaux. Chọc phá, bị đuổi nữa và cứ thế bà nhảy hết ba trường đạo. Tội nặng nhứt là thiếu đức tin. Sau cùng, bà học một trường tư. Năm 1951, thi rớt Tú Tài. Khóa sau nhờ học luyện thi cấp tốc nên thi đậu. Sagan ghi tên lớp Dự bị Văn chương ở Sorbonne nhưng cuối năm học 1953 cũng không đủ điểm để lên Năm I. Ngoài ham chơi, Sagan mê đọc sách. Đọc rất nhiều sách của những tác giả lớn như Sartre, Camus, Malraux, Proust,… Lúc học ở Sorbonne, bà bắt đầu sống nếp sống trưởng giả Paris, hội hè, chè chén. Bà có điều kiện ăn chơi vì vốn con nhà khá giả, cha làm kỹ nghệ.

Chán học nhưng Sagan lại muốn phải làm cái gì theo ý mình. Suốt mùa hè 1953, Sagan viết xong “Bonjour Tristesse“ chỉ trong vòng hơn 30 ngày. Bà gởi bản thảo tới nhiều nhà xuất bản ở Paris, nhà Julliard nhận xuất bản nhưng phải được phép cha mẹ vì Sagan còn vị thành niên, mà lúc đó tuổi trưởng thành là 21. Ông Quoirez, cha của tác giả, đồng ý nhưng phải ký dưới một bút hiệu chớ không được giữ tên thiệt là Françoise Quoirez. Bà chộp ngay tên Sagan, một nhơn vật trong truyện «A la recherche du temps perdu» (Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust mà bà yêu thích để thay cho tên của mình.

Julliard in lần thứ nhứt có 3000 bản. Bán hết ngay. Qua năm sau, “Bonjour Tristesse” được dịch ra tiếng Anh và trở thành tác phẩm dẫn đầu những best-seller ở Mỹ.

Năm 1958, «Bonjour Tristesse» bán ở Pháp lên tới 810 000 bản. Sách lìền được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau.

Ngoài số sách bán ra lên hằng triệu, «Bonjour Tristesse» được giải thưởng «Prix des Critiques» đem lại cho tác giả 500 000 bảng Anh (Livre sterling – 1euro = 0, 87 livre).

Chính sự thành công to lớn này đã làm cho Vatican chú ý và phản ứng. Giáo hoàng Pie XII lên án gay gắt «Bonjour Tristesse». Khi Sagan làm đám cưới đầu tiên, vị Linh mục từ chối làm lễ cho bà.

Nhưng Sagan thấy đầy phấn khởi nên say mê viết tiếp. Và cứ hai năm, bà cho ra đời một quyển truyện.

Sách của Sagan xuất hiện khắp nơi, trong tiệm sách, trong thư viện, cả trên kệ sách gia đình. Và đặc biệt trong trao đổi thời sự văn học, trong giới học sinh, sinh viên.

Thử tưởng tượng sự thành công viết văn của một cô gái trẻ: hơn 30 triệu bản bán ra. Nhiều tiểu luận cao học, luận án tiến sĩ của sinh viên các Đại học trên thế giới, nhứt là Huê kỳ, lấy đề tài nghiên cứu trên tác phẩm của bà.

40 tập truyện của bà đều được dịch ra tiếng Anh, mặc dầu có nhiều truyện không được best-seller nhưng cũng đều bán đắt như tôm tươi.

Nhà văn lớn của Huê kỳ, ông John Updike, hai mươi năm sau, ca ngợi «Bonjour Tristesse» trên The New Yorker: «sôi động như biển cả, hẻo lánh như rừng hoang, nhanh nhẩu theo bản năng tự nhiên, các nhơn vật được xây dựng hoàn hảo». Ông nói thêm «tác phẩm phải được viết theo một niềm tin hồn nhiên tánh chất khêu gợi của sự kiện».

Riêng tác giả thì cho rằng sự thành công của bà là một «thành công đầy tai tiếng, bêu riếu».

Người ta không thể chấp nhận được chuyện một cô gái 17 hoặc 18 tuổi làm tình với một đứa con trai trạc tuổi mình mà chẳng hề bị la mắng hay trừng phạt gì cả. Đã thế, cô gái lại còn biết thảo luận chuyện tình ái lăng nhăng của cha mình, những đề tài lúc đó vẫn còn bị cấm kỵ giữa cha mẹ và con cái theo giáo dục nghiêm ngặc của Thiên chúa giáo.

Riêng đối với Sagan, tai tiếng của câu chuyện là «một nhân vật lại có thể – do vô thức, do ích kỷ – đưa đến cái chết của một người khác”.

Nhờ sự thành công nổi tiếng trong văn giới mà Sagan đã sớm quen biết những nhà văn lớn của Pháp như Jean-Paul Sartre, Ernest Hemingway, Henry Miller và cả trong chính giới như chính trị gia trẻ tuổi tả phái Francois Mitterand, sau là tổng thống Pháp.

Về cuối đời, Sagan phải ngồi xe lăn, chống nạng sau nhiều lần giải phẫu do tai nạn xe cộ. Đã thế, nợ nần chồng chất, bà phải bán căn nhà ở Normandie, và sống qua ngày ở nhà những người bạn. Cuối cùng, bệnh nặng quá, bạn bè đưa vào nhà thương.

Tháng Chín năm 2004, tại bệnh viện Honfleur ở Normandie, thành phố cảng miền cực Bắc nước Pháp, Françoise Sagan mất. Thọ 69 tuổi, đưa về an táng ở quê hương vùng Lot, bên cạnh cha mẹ và người anh.

Cả nước Pháp xúc động.

Báo chí Âu Châu thương tiếc bà qua nhiều hàng tít lớn lấy từ tựa những tác phẩm nổi tiếng nhất của Sagan, chẳng hạn tờ La Vanguardia ở Tây Ban Nha: “Bonsoir Françoise”; tờ Corriere della Sera ở Ý: “Françoise Sagan, adieu tristesse”.

Báo chí Pháp như Paris Match, Le  Figaro, L’Express, Le Monde, La Libération,… cho đi cả một loạt bài vinh danh con người và sự nghiệp của Sagan: “Đời bà y như một cơn gió xoáy… Rộng lượng, đầy cảm hứng, nhanh nhẩu, nổi loạn, không thể phân loại, không thể bắt chước. Chúng ta yêu mến Sagan, ngay cả nếu chúng ta chưa hề đọc sách của bà hay không còn đọc sách của bà nữa. Sagan là một cái gì còn hơn cả chính Sagan, còn hơn là một hiện tượng viết văn: một nhà văn, một phụ nữ, một kỷ nguyên. Bà vội vã đi hết tốc lực xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm của mình, chẳng thèm quan tâm đến mình”.

Chánh giới Paris cũng bày tỏ sự thương tiếc Sagan. Tổng thống Pháp Jacques Chirac xúc động: “Bà chết đi, nước Pháp đã mất đi một trong những tác giả độc đáo nhất và nhạy cảm nhất, một khuôn mặt sáng giá trong sinh hoạt văn chương của chúng ta. Với sự sắc sảo, trí tuệ và tinh tế, Françoise Sagan đã thăm dò những nguyên động lực và những đam mê của tâm hồn con người” (…) Bà đã góp phần vào sự tiến bộ của vị trí người phụ nữ trong xã hội chúng ta”.

Thủ tướng Jean-Pierre Raffarin: “Françoise Sagan, đó là một nụ cười, sầu muộn, khó hiểu, xa cách nhưng mà vui.”

Bộ trưởng văn hóa  Renaud Donnedieu de Vabres: “Chúng ta đã mất đi một nhân vật ngoại hạng, một nghệ sĩ đầy tài năng”.

Môt hiện tượng xã hội thời hậu chiến

Thế chiến chấm dứt tạo ra một xã hội Âu châu mới với tuổi trẻ tiêu biểu sống thác loạn. Sống trước đã và cho chính mình! Sagan là một khuôn mặt nổi bật của Paris suốt hai thập niên 50-60. Mái tóc cắt ngắn, mặc áo da, cặp mắt viền đậm, tay kẹp điếu thuốc đen (Gauloises, như Bastos, Mélia ở Sài gòn hay thuốc rê Gò vấp), với tách cà-phê. Bà la cà các quán cà-phê khu la-tinh, các quán ăn Paris, tối thì hộp đêm.

Đi xe thể thao Jaguar, đậu ngay trước cửa nơi tới, thách thức với luật lệ. Do có nhiều tiền, Sagan có điều kiện thỏa mãn cuộc sống vội vàng và cuồng vọng. Bà lao vào rượu, hút, cờ bạc, tình dục thả cửa. Khi lái xe, Sagan say mê tốc lực. Cũng giống như tuổi trẻ lúc bấy giờ, bà tìm thấy hạnh phúc ở nguy hiểm khi thoát trong gang tất.

Sagan là một mẫu hiện sinh (existentialiste) nhưng không phải lý thuyết mà bằng hành động, bằng thực tế đời sống của bà.

Tâm lý xã hội hậu chiến thường xuất hiện ở những nước sau khi hết chiến tranh. Việt nam dĩ nhiên không tránh khỏi.

Riêng ảnh hưởng Sagan đến Việt nam vào những năm cuối 50 và đầu 60 khá đậm nét nhưng chỉ trong phạm vi thu hẹp lúc ban đầu ở lớp đọc truyện của bà. Sau đó lan rộng ra khi truyện của bà được dịch ra tiếng Việt nam. Các bà các cô cắt tóc ngắn, kiểu tóc “con trai”, bỏ kiểu uốn quăn hay kẹp đuôi gà. Học sanh ngồi cà-phê, hút thuốc. Nhiếu quán “cà-phê văn nghệ, triết lý” mộc lên nhiều nơi. Sách báo ảnh hưởng trào lưu hiện sinh của Pháp bắt đầu e ấp xuất hiện. Gần như một copie của Pháp. Sau 63, tiểu thuyết, tác giả nhà văn nữ, viết mạnh mẽ về đời sống thầm kín phụ nữ mà trước giờ chỉ do các ông viết thay bằng óc tưởng tượng. Nhưng dầu sao, hiện tượng “sống  cái đã” ở Việt nam vẫn hiền lành hơn ở Âu châu, nhứt là Pháp và Đức.

Ngày nay, lớp tuổi 50-60 và cả lớp con em của họ ở Việt nam đang sống vô cùng thác loạn vì mất phương hướng. Cán bộ đảng vìên có tiền lao vào sống vội, lặn ngụp trong những đam mê vật chất. Các bà vợ ở nhà cũng lo sống cho mình, tìm bồ nhí, tìm phi công trẻ. Giá trị tiêu chuẩn của xã hội Việt nam là đạt điều mình muốn, đạt mục tiêu là trên hết.

Khác với Sagan, nếu so sánh, Sagan xài tiền của mình kiếm được bằng khả năng làm việc của chính mình còn ở Việt nam, giới có tiền tiêu xài nhờ kiếm được bằng chức quyền lãnh đạo đất nước.

Tâm lý xã hội Pháp hậu chiến dẫn tới phong trào sinh viên học sinh bạo loạn tháng 5/68 là cao điểm. Sau đó, luật pháp cho phép tự do luyến ái, thừa nhận nữ quyền, cho phá thai, ngừa thai, … đã làm lắng dịu xã hội từ lâu căng thẳng dưới sức ép của ảnh hưởng tôn giáo. Năm 1981, Tổng Thống mác-xít Mitterrand đem trường học trở về thế tục, xóa bỏ nề nếp cũ, tách đời sống xã hội khỏi sự quản chế của Gìáo hội, làm dịu thêm xã hội Pháp. Nhưng sau đó, xã hội Pháp lại mất đi những giá trị mẫu mực, nhà trường xuống cấp, thang giá trị đảo lộn. Ngày nay, chánh quyền kêu gọi phục hồi những giá trị đạo lý cho học đường. Nhưng làm sao, thứ đạo lý nào?

Pháp đã như vậy, Việt nam ngày mai này sẽ đi về đâu? Tiến lên một Việt nam xã hội chủ nghĩa?

Nguyễn Thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.