Hôm nay,  

Đồng Tiền Trong Chính Trị Mỹ

7/21/201500:00:00(View: 9000)

Bây giờ bà Hillary dự trù sẽ cần... 2 tỷ để vào Nhà Trắng...

Báo chí thời gian qua làm rùm beng về xì-căng-đan hai ông bà Clinton vơ vét tiền đủ kiểu, đặc biệt là qua những vụ mà Việt Nam hiện nay gọi là “chặt chém” trong thù lao đọc diễn văn, và “quyên góp” cho quỹ “từ thiện” Clinton Foundation. Đi đọc diễn văn cho mấy đứa trẻ con trong hướng đạo cũng “hai trăm rưởi, chắc giá, không bớt một xu”. Nhiều người thắc mắc, ngao ngán, sao lại có người tham lam quá mức như vậy. Cả triệu rồi vẫn chưa đủ, vẫn than “nghèo”, “gần phá sản” là sao? Trong khi đó thì đi đâu cũng vỗ ngực tranh đấu sống chết cho “lao động” Mỹ.

Thật ra, nói hai ông bà Clinton ham tiền thì hơi quá đáng vì không chính xác lắm. Hai ông bà đều là nhân vật quyền thế, uy danh hàng đầu, không có nhu cầu tiền bạc nhiều lắm đâu. Suốt ngày được mời mọc yến tiệc, đi tàu bay chùa mà lại là phản lực riêng chứ không phải mua vé rồi ra phi trường ngồi chờ hai ba tiếng đồng hồ như thiên hạ đâu. Đi đâu cũng xe đưa xe đón, khách sạn đài thọ đầy đủ, phục vụ chu đáo hết rồi. Cô con gái cũng lớn rồi, đi đọc diễn văn lai rai cũng lãnh 70.000 đô một bài rồi, cho dù chẳng ai nghe cô nói gì, chỉ cần mượn cái tên “Clinton” thôi.

Thế thì tại sao lại cắm đầu kiếm tiền làm gì? Xin thưa ngay: đó là để có tiền mua cái ghế trong Nhà Trắng. Vâng thật sự là vậy: không có tiền không thể nào đắc cử tổng thống trong cái xứ gọi là “dân chủ” này được.

Chế độ chính trị Mỹ mang tiếng là chế độ “dân chủ” nhất thế giới. Tất cả mọi công dân trên nguyên tắc đều có thể ra tranh cử tổng thống, và tất cả cử tri trên nguyên tắc cũng có thể bầu bất cứ người nào mình muốn làm tổng thống. Thực tế, chỉ là nói nghe cho vui thôi chứ chẳng bao giờ có chuyện lý tưởng vớ vẩn như vậy.

Cách đây không lâu, thời mấy ông Clinton và Bush tranh cử thì mọi việc đều tương đối khá sòng phẳng. Các ứng viên tổng thống đều ra tranh cử trong giới hạn tiền tranh cử do Nhà Nước chu cấp và cử tri đóng góp trong giới hạn nào đó, tương đối bằng nhau, trong những mức phải chăng.

Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1992 (là năm TĐ Clinton hạ đương kim TT Bush cha), hai chính đảng thu và chi xấp xỉ ngang ngửa nhau, khoản 50 triệu mỗi bên. Đến năm 2000, là năm TĐ Bush –con- hạ PTT Gore, hai bên thu chi trên dưới 200 triệu. Cả hai bên đều nhận trợ cấp không nhiều lắm của Nhà Nước, bằng nhau, cộng thêm một phần tiền do các mạnh thường quân ủng hộ cho đảng gọi là “tiền mềm”, soft money, chứ không phải cho cá nhân hai ứng viên,.

Nhưng đến năm 2008 thì cái đê ngăn nước bị TNS Barack Obama phá vỡ, cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc biến thành cuộc đấu thầu xem ai thu được nhiều nhất rồi chịu chi nhiều nhất. Giải thưởng là Nhà Trắng, bất kể kinh nghiệm, tài cáng, hay mánh mung gì.

Khi TNS Obama mới xuất hiện, chưa ai biết đến thì việc gây quỹ khó khăn, trong khi đối thủ là bà Hillary lại là cái giếng không đáy, nơi mà các đại gia đảng Dân Chủ đổ tiền vào. Ông Obama lên mặt đạo đức, sỉ vả bà Hillary lấy tiền đè người, mua chức tổng thống, kêu gọi bà ngưng gây quỹ cá nhân mà lấy tiền trợ cấp tranh cử của Nhà Nước cho công bằng. Lời kêu gọi của ông dĩ nhiên bà Hillary coi như không nghe thấy gì.

Thế rồi, nhờ tài ăn nói, nhờ đám phụ tá giỏi, và nhất là nhờ hậu thuẫn của khối thanh niên và trí “ngủ” sống trong mộng tưởng ngây ngô, ông nổi lên như niềm hy vọng của Mỹ. Khối này hậu thuẫn từ trí tuệ -khả năng tổ chức, tuyên truyền, vận động,...- cho đến tài chánh. Tiếng tăm nổi lên như cồn, cùng lúc với tiền vào như nước, giúp ông hạ được bà Hillary và ra tranh cử chống ứng viên Cộng Hoà, TNS John McCain.

Bây giờ thì ông McCain dùng gậy ông đập lưng ông, thách thức TNS Obama giữ lời hứa, không dùng tiền mua Nhà Trắng, chấp nhận tiền của Nhà Nước, đâu 80 triệu cho mỗi ứng viên. Để rồi bây giờ đến phiên TNS Obama dùng chiêu “võ điếc” không nghe thấy gì, nhắm mắt nhắm mũi đi gây quỹ. Ông McCain đành cố gắng lẹt đẹt chạy theo.

Kết quả, TNS Obama thu được 730 triệu và TNS McCain thu được 330 triệu. Tổng cộng cả hai bên là hơn một tỷ đô trong khi trong cuộc bầu cử giữa TT Bush cha và TĐ Clinton, tổng cộng chỉ hơn 100 triệu. Số tiền TNS Obama thu được là con số kỷ lục chưa từng thấy, lớn gần gấp mười lần số tiền Nhà Nước chuẩn bị cho mỗi ứng viên. Ở đâu ra số tiền đó? TNS Obama khoe hàng trăm ngàn người dân “thấp cổ bé họng” đã yểm trợ bạc cắc cho ông. Thực tế, các tài liệu về tiền yểm trợ cho thấy tuyệt đại đa số tiền ông thu được là do hai nguồn yểm trợ: các nghiệp đoàn bắt ép đoàn viên phải đóng tiền yểm trợ cho các “tổ chức hành động chính trị” –Political Action Committees hay PAC-, và các đại gia Wall Street với những đại tài phiệt như George Soros, Bill Gates,… Bill Gates cũng là người tài trợ cho đài MSNBC (là sự hợp tác giữa MicroSoft –MS- và NBC), là đài TV phe ta hung hăng nhất.

TNS Obama quên bẵng những lời sỉ vả “lấy tiền đè người”, “mua chức tổng thống”, “công bằng”,… mà ông đã thân tặng bà Hillary. Chuyện quân tử Tàu, giữ lời hứa, là chuyện các chính khách Mỹ, đặc biệt là TNS Obama, chưa bao giờ nghe nói tới, khỏi thắc mắc. Nói như “tonton Thiệu”, đừng nghe những gì Obama nói...

Và rồi như ta đã biết ông đã mua được cái ghế trong Nhà Trắng thật.

Câu chuyện TNS Obama dùng tiền áp đảo đối phương để vào Nhà Trắng đã đi vào lịch sử Mỹ, như là biến cố thay đổi hẳn cấu trúc và phương thức tranh cử chính trị Mỹ: đồng tiền biến thành yếu tố chi phối kết quả bầu cử. Bốn năm sau, TT Obama chi 1 tỷ để tranh cử chống TĐ Mitt Romney. Bây giờ bà Hillary dự trù sẽ cần... 2 tỷ để vào Nhà Trắng.

Tiền bạc đã chi phối cuộc bầu cử tổng thống ngay cả ở cấp bầu sơ bộ.

Năm nay, bên Cộng Hòa chưa chi đã có tới 17 ứng viên ra chạy đua vào Nhà Trắng. Điểm nổi bật đáng nói hiện nay là ứng viên hàng đầu, với tỷ lệ hậu thuẫn nhất nhì, là tỷ phú Donald Trump. Ít người coi ông này như là một ứng viên nghiêm chỉnh, với nhiều hy vọng đắc cử làm đại diện cho đảng Cộng Hòa, khoan nói tới đắc cử tổng thống. Ấy vậy mà ông leo lên hàng đầu. Ông tranh cử bằng tiền túi của mình, rầm rộ khoe có gia tài gần mười tỷ, dư sức lấy tiền đè tất cả các ứng viên khác.

Thậm chí, có tiền cũng chẳng cần phải thắng ở cấp sơ bộ luôn. Như ông tỷ phú Ross Perot, bỏ tiền túi ra tranh cử trực tiếp chống TT Bush cha và TĐ Clinton năm 1992. Cũng thu được đâu 20% phiếu, phần lớn là từ khối bảo thủ của TT Bush, khiến ông này bị chia phiếu, và TĐ Clinton ngáp phải ruồi, vào được Tòa Bạch Ốc.

Dĩ nhiên, ta cũng phải hiểu là đồng tiền cũng chi phối tất cả mọi cuộc tranh cử khác, chứ chẳng riêng gì tranh cử tổng thống. Tuy nhiên, ở những cấp dân biểu, nghị sĩ, hay cấp tiểu bang thì tương đối không lên đến những mức kinh hồn như tranh cử tổng thống.

Tại sao ngày nay tranh cử lại tốn quá nhiều tiền như vậy? Họ cần tiền cho ba mục tiêu chính:

- Sản xuất phim quảng cáo và mua thời gian quảng cáo trên TV và đài phát thanh;

- Mở văn phòng tranh cử tại càng nhiều tỉnh, quận hạt càng tốt, đặc biệt là trong khoảng một tá tiểu bang xôi đậu;

- Thuê các cố vấn vận động tranh cử, các chuyên gia điện toán và internet, marketing, thăm dò dư luận,...

Một điều quan trọng không kém là việc đồng tiền cũng chi phối các luật lệ mà các vị dân cử đưa ra hay không đưa ra.

Chính trị Mỹ có một hiện tượng có một không hai trên thế giới: đó là các chuyên gia của các nhóm vận động hành lang – lobby groups-. Tại quốc hội, có cả ngàn chuyên gia kiểu này, đại diện cho đủ mọi ngành nghề, đủ mọi quyền lợi, đủ mọi địa phương, luôn cả đủ loại người như người già, nữ giới, đồng tính, da đen, da nâu, da vàng, di dân lậu, cựu quân nhân, công giáo, tin lành, v.v... Không thiếu một thứ nào hết.

Và ảnh hưởng của họ cực kỳ mạnh. Trên căn bản, họ có trách nhiệm theo dõi kỹ từng bộ luật được đưa ra, nghiên cứu xem khối quyền lợi của họ có bị đụng chạm hay không. Ngược lại, họ cũng có trách nhiệm xúi các vị dân cử đưa ra những luật mới có lợi cho quyền lợi của nhóm của họ. Giúp cho các vị dân cử có những lập luận, tài liệu, dữ kiện để ủng hộ hay chống một dự luật nào đó.


Đó là nói chuyện lý thuyết. Thực tế là họ dùng đồng tiền để khuynh đảo các vị dân cử. Đút lót cho họ tiền vận động tranh cử, là thứ tiền mà không có ông bà chính khách nào không cần đến. Làm theo ý họ thì có nhiều tiền, không làm theo ý họ là không có tiền tranh cử. Mà tiền nhiều thì hy vọng thắng nhiều, tiền ít thì hy vọng về quê câu cá rất cao.

Nhiều khi tiền mặt được trao trực tiếp. Như trường hợp một ông dân biểu của tiểu bang Louisiana bị FBI bắt với 50.000 đô tiền mặt giấu trong tủ lạnh trong văn phòng của ông. Khiến cho dân tỵ nạn ta bất ngờ có được một ông dân biểu tỵ nạn tại Hạ Viện, đại diện cho một khu vực mà đại đa số là dân da đen.

Lương các vị dân cử chỉ trên 150.000 một năm thôi, nhưng thực tế tất cả các vị dân cử, dân biểu hay thượng nghị sĩ, sau vài năm đều trở thành triệu phú hết.

Dân biểu Cộng Hoà Dennis Hastert, cựu Chủ Tịch Hạ Viện, mới đây bị truy tố ra tòa vì đút lót 3,5 triệu đô cho một người tống tiến ông ta, dọa khui tội lem nhem tình dục của ông cách đây mấy thập niên. Với mức lương trên dưới một trăm ngàn một năm, làm sao có được bạc triệu dễ dàng như vậy?

Cũng có khi đút lót bằng quà cáp, bao máy bay đi du lịch thế giới, hay đi tranh cử, bao đi đánh gôn, yến tiệc dài dài, mời đọc diễn văn với thù lao trên trời. Hay tặng tiền cho “quỹ từ thiện” của họ.

Ảnh hưởng của các nhóm vận động hành lang này không phải là không đáng kể.

Một ví dụ cụ thể nhất là vấn đề kiểm soát súng. Trong thời gian mấy năm gần đây, đã xẩy ra hàng loạt những vụ mấy anh khùng vác súng đi bắn thiên hạ. Mỗi lần xẩy ra chuyện này thì dư luận quần chúng lại ào ào nổi lên đòi ra luật kiểm soát súng đạn. Ngay cả TT Obama, mỗi lần có chuyện, cũng mau mắn chụp cơ hội lên tiếng kêu gọi ra luật kiểm soát súng đạn. Nhưng rồi cho đến nay, sau cả chục vụ, thì ta vẫn thấy tình trạng “vũ như cẩn”, chẳng có luật gì ra được hết. Các vị dân cử lên tiếng than phiền là “khó lắm”, vì đại đa số dân Mỹ vẫn rất mê súng đạn, không có cách nào lay chuyển ý thích này được.

Thực tế, vấn đề không phải là cử tri họ không cho họ ra luật kiểm soát súng đạn, mà chẳng qua, họ đã lỡ chià tay nhận quá nhiều tiền của tổ chức NRA, tức là National Rifle Association, là hiệp hội những người sở hữu súng. Đây là một tổ chức cực mạnh về tài chánh, mỗi năm bỏ ra cả chục triệu tiền “lobby” mấy ông bà dân cử thuộc cả hai đảng. Chúng ta không có thống kê chính xác vì tất cả đều thuộc loại tin “bí mật”, không ai biết được chi tiết rõ ràng, nhưng có thể nói cỡ hai phần ba các vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà cũng như Dân Chủ, đều đã nhận được tiền yểm trợ của NRA. Do đó, há miệng mắc quai, họ không cho ra nổi bất cứ một luật nào nhằm kiểm soát sở hữu súng đạn được.

Thực tế trong chính trị Mỹ là các nhóm vận động hành lang phải “cho phép” thì một dự luật mới thành luật được.

Điển hình lớn nữa là Obamacare. Một bộ luật vĩ đại, với những hậu quả tài chánh khổng lồ cho các đại công ty trong ngành y tế như các công ty quản lý bệnh viện, các hãng bảo hiểm y tế, các công ty dược phẩm lớn, chưa kể các phòng mạch của các bác sĩ tư.

Năm 1992, bà Hillary thất bại hoàn toàn, không đưa ra nổi một dự luật để thảo luận trước quốc hội vì bị chống đối mạnh ngay từ trong nội bộ đảng Dân Chủ, cũng như từ các hiệp hội y sĩ, các nhà thương, hãng bảo hiểm, công ty thuốc, qua các nhóm vận động hành lang của họ.

Năm 2009, Obamacare ra đời được một phần là do đảng Dân Chủ kiểm soát được cả Toà Bạch Ốc lẫn cả hai viện quốc hội. Nhưng quan trọng hơn nữa là Obamacare đã không bị các nhóm vận động hành lang đại diện cho các đại công ty ngành y tế chống đối. Tại sao? Lý do giản dị là Obamacare khác với Hllarycare, thực sự rất có lợi cho các đại công ty ngành y tế, do đó, được họ chấp nhận.

TT Obama khi rao bán Obamacare đã long trọng hứa hẹn chi phí y tế, từ bảo hiểm cho đến nhà thương, bác sĩ, thuốc men, sẽ giảm đồng loạt cho tất cả mọi người. Lập luận của ông rất giản dị: Obamacare sẽ giúp khoảng ba chục triệu người có bảo hiểm y tế, tức là giúp cho ngành y tế có thêm ba chục triệu khách hàng. Do con số khách hàng gia tăng như vậy, nên giá cả sẽ giảm mạnh.

Cái lập luận này nghe xuôi tai, nhưng thực tế không phải vậy. Trong trường hợp khách hàng gia tăng mạnh như vậy, giá cả có thể giảm, nhưng với điều kiện là ngành y tế dư thừa bác sĩ, dư thừa nhà thương, dư thừa thuốc men. Thực tế trong xứ Mỹ này không có tình trạng dư thừa đó, cho nên khi khách hàng tăng cả chục triệu người một sớm một chiều, thì sẽ xẩy ra tình trạng khan hiếm bác sĩ, nhà thương, và thuốc men. Và kết quả hiển nhiên là giá cả y tế sẽ bắt buộc phải tăng. Luật cung cầu sơ đẳng. Khi cung vẫn vậy mà cầu tăng vọt thì giá cả bắt buộc phải tăng thôi. Kinh tế thị trường không có đuôi định hướng gì hết là vậy.

Làm con tính sơ đẳng đó, các đại công ty ngành y tế thấy rõ hai chuyện: thứ nhất khách hàng sẽ tăng mạnh, thứ nhì giá cả cũng sẽ tăng mạnh luôn. Và họ được lời to. Do đó, họ đã không chống phá Obamacare, các chuyên gia vận động hành lang chẳng những không ngăn cản, mà trái lại còn ra sức giúp cho Obamacare được thông qua, giúp cho Obamacare trở thành luật.

Muốn thấy bằng chứng là Obamacare có lợi cho các đại công ty ngành y thì chỉ cần nhìn vào thị trường chứng khoán Dow Jones, nhân ngày Tối Cao Pháp Viện biểu quyết không giết Obamacare mới đây, hạ tuần tháng Sáu vừa qua. Ngay sau quyết định, giá cổ phiếu các công ty ngành y, nhất là các công ty quản lý bệnh viện, nhẩy vọt lên từ 10% đến 20% trong vòng vài tiếng đồng hồ, tuy đến cuối ngày thì giảm lại xuống mức vừa phải hơn khoảng từ 5% đến 10%. Những người đầu tư vào ngành y thấy rõ duy trì Obamacare sẽ giúp các công ty này có lời nhiều hơn trong tương lai, và đó là những nơi họ có thể đầu tư lâu dài. Thiên hạ xúm vào mua cổ phiếu của các đại công ty đó, đưa đến mức giá tăng vọt ngay.

Nhìn vào câu chuyện Obamacare ta mới thấy cái tài của phù thủy Obama: ra một luật có lợi lớn cho các đại tài phiệt ngành y, nhưng dấu nhẹm khiá cạnh này nên ít ai nhìn thấy, trong khi quảng bá mạnh khiá cạnh “nhân đạo” giúp cho nhiều người có bảo hiểm sức khoẻ hơn, nên được thiên hạ vỗ tay hoan hô kịch liệt. Một phần cũng nhờ những lươn lẹo, lắt léo, dối trá mà GS Gruber, một trong những người đã vẽ ra Obamacare, đã tiết lộ.

Bà Hillary, một chính khách lão làng cả về tuổi tác lẫn kinh nghiệm chính trường Mỹ, đã nhìn thấy rõ hơn ai hết sức mạnh của đồng tiền trong chính trị, do đó đã hùng hục lo kiếm tiền từ gần cả chục năm nay. Cả hai ông bà kiếm tiền cho riêng mình, nhưng cũng kiếm tiền rất nhiều, hơn hai tỷ, cho quỹ từ thiện Clinton Foundation. Nếu có người nào nghĩ đây chỉ là quỹ tư thiện thuần tuý thì người đó phải là người ngây ngô nhất nhân loại. Mấy ông độc tài giết người không chớp mắt không có dư thừa lòng nhân đạo để tặng quỹ từ thiện bạc triệu chống bệnh AIDS. Với tư cách tổng thống, sao họ không bỏ tiền ra cho ông bộ trưởng y tế của họ để làm việc này tại nước của họ, mà lại phải đưa tiền cho bà Hillary? Họ nhìn thấy rất rõ cái bà chủ nhân quỹ đó có rất nhiều triển vọng làm tổng thống Mỹ. Đấm mõm ngay từ cả mấy năm trước cho chắc ăn mai mốt sẽ có “đồng minh” trong Nhà Trắng. Mặt khác, bà Hillary cũng hiểu rất rõ phân phát tiền bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất để lấy cảm tình và cuối cùng là lấy phiếu thôi.

Và cho đến nay, chưa ai kiếm tiền và phát tiền mạnh bằng bà, và cũng chưa ai có hy vọng ngăn chặn được bà vào Toà Bạch Ốc. Ít nhất là cho đến nay.

Ai dám nói chính trị Mỹ không bị đồng tiền chi phối? (19-07-15)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.