Hôm nay,  

Trung Cộng khước từ yêu cầu của Hoa Kỳ ngưng xây dựng đảo ở Biển Đông

01/03/201500:01:00(Xem: 6289)

CHỐNG TÀU DIỆT VIỆT CỘNG

Bản tin số 59— Ngày 28 tháng 02 năm 2015 

Trung Cộng khước từ yêu cầu của Hoa Kỳ ngưng xây dựng đảo ở Biển Đông

Tác giả: Bill Gertz

Người dịch: Trần Văn Minh

28-2-2015

Hình ảnh vệ tinh cho thấy các công trình xây dựng quân sự được mở rộng dưới thời Tập Cận Bình.

blank


​Trung Cộng bác bỏ lời kêu gọi của chính quyền Obama hồi đầu tháng này ngưng các công trình xây dựng "gây mất ổn định" trên các đảo nhỏ tranh chấp ở Biển Đông, theo các viên chức Mỹ.

Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Russel đã thúc giục các quan chức Trung Cộng ngưng các công trình đang được gấp rút mở rộng nhiều năm qua tại quần đảo Trường Sa tranh chấp trong chuyến thăm Bắc Kinh.

Theo các viên chức hiểu biết về cuộc đàm phán, lời kêu gọi của ông Russel đã bị từ chối trong cuộc họp ngày 10 tháng hai với Zheng Zeguang, trợ lý ngoại trưởng Trung Cộng, người nói rằng việc xây dựng đang diễn ra trong khu vực chủ quyền của Trung Cộng.

Sự từ chối yêu cầu của ông Russel, nhà hoạch định chính sách trọng yếu của chính quyền Hoa Kỳ về Châu Á Thái Bình Dương, đã phản ảnh nhận xét của phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Cộng, Đại tá Yang Yujun, người đã nói với các phóng viên ngày 29 tháng 1: "Việc xây dựng và bảo quản cơ sở hạ tầng trên các rạn san hô và đảo ở Biển Đông là hợp pháp và thực hiện theo quy định của luật pháp. Các nước khác không có quyền chỉ trích các hoạt động xây dựng đó".

Trung Cộng đang tuyên bố chủ quyền trên hơn 90 phần trăm Biển Đông là lãnh thổ của họ và đã từng xung đột với các bên tranh chấp đảo khác, trong đó có Philippines và Việt Nam.

Tuy không thể tìm được ông Russel để hỏi ý kiến, nhưng ông ta đã nói với tờ Wall Street Journal rằng Hoa Kỳ muốn Trung Cộng phải ngừng xây dựng đảo.

"Hành động này gây bất ổn và mâu thuẫn với các cam kết mà Trung Cộng đã ký" với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ông Russel nói.

Trung Cộng đã đồng ý với một thỏa thuận của ASEAN gần đây không có các hành động khiêu khích trên biển.

Ông Russel cho biết công việc lấn biển quy mô lớn trong thời gian từ 2 tới 3 năm qua "lớn hơn nhiều lần so với bất cứ và tất cả mọi thứ mà các bên tranh chấp khác đã làm".

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Cộng, Hoa Xuân Oánh, cũng nói với các phóng viên tại Bắc Kinh ngày 19 tháng 2 rằng "các nước thứ ba nên nói ít hơn và ngưng gây rối". Bà đáp lại phát biểu của ông Russel ở Manila bày tỏ quan ngại về các hoạt động của Trung Cộng trong khu vực.

Các hình ảnh vệ tinh về việc xây dựng tiết lộ một sự gia tăng đáng kể các hoạt động, bao gồm các hình ảnh mới cho thấy một hòn đảo nhân tạo rộng 15,5 mẫu Anh.

Hòn đảo này có hai cầu cảng, một nhà máy xi măng và một bãi đáp trực thăng trên đá Tư Nghĩa - nằm cách Philippines khoảng 210 dặm.

Các hình ảnh vệ tinh mới, được tuần báo Quốc phòng IHS Jane công bố, cho thấy công trình xây dựng hạ tầng tương tự như tại đá Gạc Ma và đá Ga Ven, cũng là địa điểm mà Trung Cộng đang thách thức các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia ở Biển Đông.

Các nhà phân tích an ninh cho rằng việc xây dựng đảo san hô là một phần trong kế hoạch của Trung Cộng nhằm mở rộng quyền kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông thông qua những gì mà Bắc Kinh gọi là "Đường chín đoạn", một ranh giới không rõ ràng bao trùm thủy lộ chiến lược này.

Dân biểu J. Randy Forbes (Cộng Hòa, Virgina), Chủ tịch tiểu ban Quân vụ và chuyên gia hàng đầu của quốc hội về Trung Cộng, tuyên bố Ngũ Giác Đài nên xem xét lại chương trình giao lưu tích cực của mình với quân đội Trung Cộng vì kết quả của các hoạt động ở Biển Đông.

"Xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông để hỗ trợ yêu sách lãnh thổ của họ chỉ đơn giản là tiếp tục tính bất chấp như thường lệ của Trung Cộng đối với các chuẩn mực quốc tế và từ chối giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách có trách nhiệm", ông Forbes cho biết.

"Tôi tin rằng bắt buộc Bộ Quốc phòng [Mỹ] phải đánh giá kế hoạch của mình về tương lai trao đổi quân sự với Bắc Kinh trong bối cảnh các hành vi khiêu khích của Trung Cộng trong khu vực", Ông Forbes nói thêm. "Nếu không muốn tưởng thưởng cho hành vi gây mất ổn định với sự giao lưu quân sự tiếp tục của Mỹ".

Mặc dù sự hung hăng của Trung Cộng đối với Hoa Kỳ trong những tháng vừa qua, Ngũ Giác Đài vẫn không giảm bớt trao đổi quân sự với Quân đội Giải phóng Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Lực lượng hải quân Trung Cộng đã được mời tham gia cuộc tập trận hải quân quốc tế quy mô lớn do Mỹ lãnh đạo vào năm ngoái gọi là RIMPAC, và ngoài việc gửi lực lượng hải quân, Trung Cộng phái một tàu do thám để thu thập thông tin tình báo về các chiến thuật chiến tranh.

Các cuộc tập trận quân sự khác gần đây của Ngũ Giác Đài với Trung Cộng bao gồm cuộc "trao đổi quản lý thiên tai" do quân đội dẫn đầu trên đảo Hải Nam vào cuối tháng một; và sự tham gia của Trung Cộng trong cuộc tập trận quân sự ở Thái Lan gọi là Hổ Mang Vàng tháng ba vừa qua.

"Tại sao Bộ Quốc phòng [Mỹ] tăng cường tập trận với Trung Cộng, khi Bộ Ngoại giao yêu cầu Trung Cộng ngưng xây dựng tại Biển Đông?" một viên chức quốc phòng hỏi.

Phát ngôn viên Ngũ Giác Đài, Trung tá Jeff Pool cho biết, "Chúng tôi chưa có thông báo về những thay đổi trong chiến lược giao lưu quân đội với Trung Cộng vào thời điểm này".

Sự kiến tạo của Trung Cộng ở Biển Đông đã báo động một số viên chức Ngũ Giác đài, lo ngại rằng đây là một phần của chiến lược có tính toán để giành quyền kiểm soát vùng nước đó, được dùng như một tuyến đường vận chuyển chính cho dầu mỏ và nhiều hàng hóa khác.

Sự kiến tạo đã diễn ra trong suốt nhiều năm qua dưới lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình của Trung Cộng, người đã hứa sẽ phát triển một mô hình mới trong quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.

"Các nhà lãnh đạo Trung Cộng có thể được thuyết phục để ngừng công cuộc xây dựng này nếu Quốc hội Mỹ và tổng thống gây áp lực lên Bắc Kinh", Michael Pillsbury, một nhà tư vấn cho Ngũ Giác Đài và chuyên gia về Trung Cộng, cho biết. "Cái gọi là ‘những người bạn của Trung Cộng’ có xu hướng cản trở hành động như vậy".

Pillsbury, giám đốc Trung tâm về Chiến lược Trung Cộng tại Viện Hudson, là tác giả của một cuốn sách mới, The Hundred-year Marathon [tạm dịch: Cuộc chạy đua đường trường một trăm năm], trong đó tiết lộ một chương trình chiến lược thành công của Trung Cộng kể từ thập niên 1970 để đạt được các nguồn tài nguyên, bao gồm Biển Đông, như là một phần trong kế hoạch dài hạn được Mao Trạch Đông khởi xướng để giúp Trung Cộng vượt qua Mỹ và kết thúc sự bá chủ toàn cầu của Hoa Kỳ.

John Tkacik, một cựu viên chức Bộ Ngoại giao cho biết, động lực để kiểm soát Biển Đông của Trung Cộng từng là mục tiêu lâu dài của lãnh đạo Trung Cộng kể từ khi chế độ Cộng sản được thành lập. Trung Cộng bắt đầu xâm lược và chiếm đoạt các hòn đảo ở Biển Đông vào năm 1974 và tiếp tục đến ngày nay.

"Trong 15 năm qua, Trung Cộng đã bắt tay vào chiến lược mới này trong việc xây dựng ở quy mô lớn trên những mảnh đất ngập nước, và bây giờ đang ở trong tư thế thực thi các đòi hỏi chủ quyền của họ, không chỉ đối với các đảo nhỏ nhưng với toàn bộ hàng triệu dặm vuông của Biển Đông", Tkacik nói.

"Rõ ràng, Bắc Kinh có ý định chiếm giữ và dân cư hóa các tiền đồn mới với mục đích thiết lập sự kiểm soát hàng hải, không những đối với các đảo và nguồn thủy sản và tài nguyên khoáng sản dưới đáy biển, mà còn trên vấn đề vận chuyển hàng hải và hàng không quốc tế", ông nói.

Việc xây dựng có vẻ như một phần của một chiến lược được hoạch định kỹ lưỡng để có thể dẫn đến việc "tất cả chuyển vận quốc tế trong không gian hàng hải và hàng không của Biển Đông sẽ chẳng bao lâu được đặt dưới quyền tài phán của Bắc Kinh", ông tiếp tục.

"Biển Đông là đường biển vây bọc quan trọng nhất trên trái đất bởi vì gần như một phần ba của tất cả vận chuyển toàn cầu đi qua đó mỗi năm", Tkacik, hiện nay là một thành viên kỳ cựu tại Trung tâm Chiến lược và Thẩm định Quốc tế, nói.

Thứ trưởng Ngoại giao Tony Blinken không đề cập đến sự chối bỏ của Trung Cộng trong một bài phát biểu tại Tokyo sau chuyến thăm Bắc Kinh của ông. Thay vào đó, ông cho biết sự hợp tác Mỹ-Trung "đang phát triển sâu hơn và rộng hơn".

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng "chúng tôi giữ vững lập trường của chúng tôi về an ninh hàng hải".

"Thương mại tự do đòi hỏi phải có hải lộ tự do cho tàu qua lại", ông nói. "Điều này đòi hỏi rằng nhu cầu buôn bán phải được ưu tiên hơn các tranh cãi về các tảng đá và bãi cát ngầm".

"Vấn đề đích thực tại trung tâm các cuộc xung đột này là người nào kiểm soát quyền tiếp cận nguồn năng lượng dồi dào của Á Châu", Blinken nói. "Khu vực này phụ thuộc, như mọi người biết, vào sự tiếp cận bền vững, giá rẻ và đáng tin cậy đối với nguồn cung ứng năng lượng đa dạng, mà từ đó phải dựa vào việc vận chuyển dầu và khí đốt an toàn và đáng tin cậy qua các hải lộ. Gần một phần ba lượng dầu thô và hơn một nửa khí đốt hóa lỏng toàn cầu đi qua Biển Đông, làm cho nó trở thành một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất thế giới".

Nguồn: The Washington Free Beacon (26/2/2015)

Chống Tàu Diệt Việt Cộng


.
,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.