Hôm nay,  

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 2)

05/02/201519:32:00(Xem: 12848)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror

Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: [email protected], 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.


image007Tác giả - Tác phẩm (2)
Người ta có thể nghe tiếng nói rõ và lớn của Nhã Ca chống lại sự hung tàn, mà bà đã chứng kiến sự giết hại giữa người Việt với nhau trong cuộc nội chiến này.
Tiếng nói của bà trở nên cay đắng đặc biệt khi bà mô tả những tàn bạo được thực hiện bởi những người Cộng Sản và những kẻ gia nhập vào lực lượng với họ. Sự hung tàn của Cộng Sản và những tên tay sai của chúng trong Trận Tấn Công Tết thúc đẩy Nhã Ca lần đầu tiên chuyển từ đổ lỗi chiến tranh đối với thảm kịch của người dân Việt Nam, mà bà đã viết trong Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, tới việc ngày càng bày tỏ rõ lập trường chống Cộng. Nó cũng đẩy bà lìa xa hơn ý nghĩa ban đầu của bút hiệu Nhã Ca và những chủ đề mà nó dựng lên, rất gần gũi với trái tim của bà trước giữa thập niên 1960s.(10) Tuy nhiên, bà đã không xóa đi những sự thật phổ quát đối với những người Cộng Sản, những nhà Dân Tộc Chủ Nghĩa, hay người Mỹ bằng việc miêu tả họ trong đen và trắng. Dù giữa cơn ác mộng của Huế, và sau đó viết về nó, bà đã mô tả những điển hình tích cực của lòng nhân đạo trong từng nhóm chiến binh. Trong “Lời Tựa Nhỏ” viết cho Giải Khăn Sô Cho Huế, bà gánh lấy trách nhiệm cho thế hệ của bà đối với thảm cảnh của Việt Nam và của Huế, đã để cho đất nước rơi vào nội chiến đổ nát để lại di sản đổ vỡ cho các thế hệ tương lai. Như tôi sẽ bàn đến trong phần sau, nó là và nó không là quan điểm được mọi người chấp nhận, từ đó đến nay.
Tác phẩm của Nhã Ca đăng báo lần đầu vào năm 1969, được đăng thành nhiều kỳ liên tiếp trong nhật báo Hòa Bình tại Nam Việt Nam từ ngày 30 tháng 3 tới ngày 18 tháng 8. Bà còn nhớ đã bị đe dọa bởi Cộng Sản, họ gửi cho bà nhiều lá thư đòi ngưng đăng loạt bài đó, nhưng bà vẫn tiếp tục cho đăng. Cuối năm 1969 loạt bài đăng nhiều kỳ này được phát hành thành sách bởi nhà xuất bản Thương Yêu, do chính Nhã Ca đã sáng lập.(11) Cùng năm đó nhà xuất bản nói trên cũng đã xuất bản Một Mai Khi Hòa Bình và Tình Ca Cho Huế Đổ Nát, và sau đó, năm 1970 cũng nhà xuất bản này đã xuất bản tác phẩm tiếp theo, Tình Ca Trong Lửa Đỏ.
Nhưng Giải Khăn Sô Cho Huế là (và vẫn là) tác phẩm nổi tiếng nhất của Nhã Ca. Tác giả tặng tất cả tiền thu nhập từ các ấn bản tiếng Việt đầu tiên và sau này của Giải Khăn Sô Cho Huế cho thành phố Huế thân yêu của bà để đóng góp vào sự tái thiết thành phố này sau tàn phá của Trận Tấn Công Tết. Năm 1970 Nhã Ca nhận được sự vinh danh của chính quyền cho Giải Khăn Sô Cho Huế – giải thưởng thứ 3 trong Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc của Tổng Thống trong lãnh vực “Truyện Dài.”(12)
Hoàn cảnh văn học tại Miền Nam vào thời điểm đó thì đa dạng lạ thường. Như đã được đề cập ở trên, hàng trăm tờ báo, tạp chí, và tạp chí chuyên đề được xuất bản, và nhiều nhà xuất bản ấn hành các tác phẩm mới và cũ. Một nhà văn Việt Nam nổi tiếng, Võ Phiến, mô tả sự đa dạng đâm chồi nảy lộc: trong khi những nhà văn như Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Hoàng Chương, và chính Võ Phiến “đã vượt qua những quan tâm và đề tài chính trị để suy tư về thế giới xa cách với những biến cố hiện thời… Phan Nhật Nam, Nhã Ca, và Dương Nghiễm Mậu lên án sự hung tàn của Cộng Sản, trong khi Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lan, Nhất Hạnh, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, v.v… thì tiếp tục tố cáo chính quyền (miền Nam) độc tài và tham nhũng và xã hội (miền Nam) bất công và suy đồi.”(13)
Trong khi một vài người, như Võ Phiến, nhìn thấy Giải Khăn Sô Cho Huế như là sự lên án Cộng Sản tàn ác, thì nó cũng là một thứ chống chiến tranh không thể chối cãi, và một cách nào đó là tác phẩm chống Mỹ. Mối quan hệ giữa Nhã Ca và chính quyền Sài Gòn không êm ấm. Chính quyền thường kiểm duyệt một số ấn phẩm của bà, như họ đã làm với nhiều tác giả khác. Nhưng sự kiện Giải Khăn Sô Cho Huế không chỉ được xuất bản mà còn thắng giải của chính quyền toàn quốc cho thấy các tác giả tại Miền Nam được hưởng tự do tư tưởng nhiều hơn các đồng nghiệp của họ tại Miền Bắc.

Nha film ekipĐoàn làm phim Đất Khổ nghỉ trưa, từ trái: Trịnh Công Sơn, Trần Lê Nguyễn (đang ăn), Nhã Ca, Minh Trang, Lê Trọng Nguyễn... và Đạo diễn Hà Thúc Cần, mũ, kính đen.

Năm 1971 đạo diễn Hà Thúc Cần bắt đầu cho quay cuốn phim có tên Đất Khổ một phần dựa trên Giải Khăn Sô Cho Huế và Đêm Nghe Tiếng Đại Bác.(14) Nhã Ca viết kịch bản phim và tham gia vào nhóm sản xuất. Một nhạc sĩ nổi tiếng, Trịnh Công Sơn, người quý mến Nhã Ca, cũng sống qua ác mộng Tết Mậu Thân tại Huế và là người, cũng như Nhã Ca, ghét chiến tranh, làm diễn viên trong phim. Cuốn phim được hoàn tất vào năm 1972 lúc mà Miền Nam rơi vào hoàn cảnh khốc liệt giữa cuộc tấn công khác của Cộng Sản và những thương lượng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt để dẫn tới cuộc rút quân của Mỹ mà không cần đếm xỉa gì tới số phận của người dân Miền Nam Việt Nam.(15) Chính quyền Miền Nam cấm cuốn phim nói trên bởi vì thông điệp chống chiến tranh mạnh mẽ của nó.


Năm 1972 đạo diễn Lê Dân thực hiện cuốn phim có tên Hoa Mới Nở dựa trên tiểu thuyết của Nhã Ca là cuốn Cô Hippy Lạc Loài. Cuốn sách này vẽ ra bức tranh rõ ràng về sự biến thái của các nhóm thanh niên Việt Nam gây ra bởi chiến tranh, sự có mặt của người Mỹ, và Mỹ hóa nền văn hóa Việt.
Nhã Ca vẫn ở Sài Gòn cho đến khi chiến tranh chấm dứt, xuất bản hơn 30 tác phẩm thơ, truyện, và tiểu thuyết. Hơn nữa, bà và chồng là chủ bút của báo Báo Đen, có mặt từ năm 1971 đến 1973. Họ cũng xuất bản tạp chí có tên Nhà Văn, nhưng chỉ ra được mấy số thì Miền Nam thất thủ trong biến cố tháng 4 năm 1975.
Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, và theo sau là sự thống nhất Việt Nam dưới ách cai trị của Cộng Sản, Giải Khăn Sô Cho Huế bị chính quyền đốt cùng với nhiều tác phẩm của Miền Nam khác mà chính quyền cho là phản động. Tuy vậy, các viên chức chính quyền đã để tác phẩm này trưng bày trong Viện Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh Của Mỹ Ngụy, được thành lập vào tháng 9 năm 1975 tại Sài Gòn, được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh. Cuốn phim Đất Khổ cũng đã bị cấm.(16)
Tác giả, như sách của bà là Giải Khăn Sô Cho Huế, bị cho là phản động. Vào tháng 3 năm 1976 chính quyền Cộng Sản mở chiến dịch chống các nhà trí thức Miền Nam. Neil Jamieson, một học giả chuyên về văn học Việt Nam, mô tả tình cảnh tại Miền Nam Việt Nam sau năm 1975 đã ảnh hưởng đến các nhà văn, nhà thơ, và nhà báo của Việt Nam Cộng Hòa: “Vào tháng 4 năm 1976 các văn nghệ sĩ nào chưa thoát ra khỏi đất nước hay bị bắt giữ đều bị bố ráp trong nhiều cuộc đột kích chớp nhoáng, như thể họ [các nhà trí thức] là những tội phạm nguy hiểm, và bị lùa lên xe tải chở đi các trại lao động như chở heo tới chợ.”(17)
Trong cuốn sách thú vị Bên Thắng Cuộc, nhà báo Việt Nam Huy Đức, đã phỏng vấn nhiều người tham dự vào các biến cố lúc bấy giờ, bàn về thời kỳ đau thương này trong cuộc sống của Miền Nam Việt Nam. Ông kể lại rằng vào ngày 3 tháng 4 năm 1976, Nhã Ca và chồng, Trần Dạ Từ, bị bắt trong chiến dịch này và, giống như hàng trăm nhà trí thức khác được cho là nguy hiểm đối với chế độ mới, đều bị đẩy vào các trại học tập cải tạo.(18) Vào lúc đó họ đã có 6 người con, tuổi từ 1 tới 13, vì cha mẹ bị bắt và tài sản bị tịch thu, đã mất hết phương tiện để sống còn. Người con gái lớn tuổi nhất, thì cũng vẫn còn là con nít ở tuổi 13, phải chăm sóc cho các em của mình. Cuối cùng các em phải tới ở với những người thân. Sau 14 tháng, Nhã Ca được thả ra,(19) nhưng Trần Dạ Từ vẫn còn bị giam cho đến 12 năm. Để sống còn trong thời gian đó, gia đình bắt đầu bán dạo thức ăn. Trong khi Nhã Ca không có ý định rời Việt Nam mà không có chồng bà, bà thường xuyên cố gửi một vài đứa con theo các nhóm người đi vượt biên đường biển mà lúc ấy đã có hàng ngàn người ra đi. Tuy nhiên, mỗi lần như thế đều thất bại với những đứa con của bà bị bắt và đôi khi bị đẩy vào các trại lao động.(20)
Năm 1977, một khuôn mặt văn học nổi tiếng là Mai Thảo, người Miền Bắc di cư vào Nam vào năm 1954 và là người sáng lập kiêm chủ bút các tạp chí và báo văn học như Sáng Tạo, Văn, và Nghệ Thuật, tổ chức vượt biên bằng thuyền từ Việt Nam, với sự trợ lực của Nhã Ca. Khi ông ấy được định cư tại Hoa Kỳ, ông đã công bố tình cảnh thảm khốc của các nhà văn và nhà trí thức Miền Nam tới Văn Bút Quốc Tế (PEN), hội các nhà văn trên toàn thế giới. Phó Chủ Tịch Văn Bút Quốc Tế lúc đó là Thomas von Vegesack, cũng là chủ tịch Văn Bút Thụy Điển. Qua ông ấy, truyền thông Thụy Điển biết rõ về hoàn cảnh các nhà văn Miền Nam, và Tom Hansson của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet tới Việt Nam để tìm hiểu thêm. Năm 1982 Tom Hansson gặp Nhã Ca và một số nhà trí thức khác. Ông thu thập thông tin về hoàn cảnh đau thương của những nhà trí thức: không chỉ nhiều người vẫn còn bị bỏ tù trong các trại học tập cải tạo mà một số đã bị chết, như nhà văn tài hoa Nguyễn Mạnh Côn... Hansson phúc trình những phát hiện của ông cho truyền thông và thông tri những điều đó cho Văn Bút Thụy Điển.
Vào tháng 11 năm 1985 người con trai lớn của Nhã Ca và Trần Dạ Từ, lúc đó 20 tuổi, đã trốn khỏi Việt Nam và vào tháng 9 năm 1986 đã đến Thụy Điển, và được Văn Bút Thụy Điển giúp đỡ.(21) Do các nỗ lực của những người này, cũng như Hội Ân Xá Quốc Tế và các thủ tướng Thụy Điển là Olof Palme và Gosta Ingvar Carlsson, chồng của Nhã Ca, nhà thơ Trần Dạ Từ, được thả ra vào năm 1988, và gia đình được phép đi định cư tại Thụy Điển.
Ở đó Nhã Ca bắt đầu lại việc viết lách. Tại Thụy Điển bà viết 3 cuốn sách, một trong 3 cuốn đó là cuốn Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, mô tả kinh nghiệm của gia đình từ lúc hai ông bà bị bắt vào ngày 3 tháng 4 năm 1976, tới khi họ rời Việt Nam vào ngày 8 tháng 9 năm 1988.(22) Năm 1992 Nhã Ca và Trần Dạ Từ dời qua California để sống và sáng lập tờ nhật báo tiếng Việt là Việt Báo Daily News, hiện có thêm các chi nhánh tại Houston, Texas, và Tacoma, Washington. Hiện nay họ có 7 người con trong gia đình, 5 người sống ở Hoa Kỳ và 2 người sống ở Thụy Điển.
Kỳ tới: Huế và diễn tiến, nơi chốn cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân

*
CHÚ THÍCH

(10) Nhà văn và nhà phê bình văn học Việt Nam nổi tiếng Võ Phiến và Thế Uyên mô tả việc chính trị hóa của Nhã Ca và những tác giả khác trong tạp chí văn học Bách Khoa. “Nói chuyện với Võ Phiến về Tác Phẩm Văn Học và Cuộc Đời,” Bách Khoa số 302 (ngày 1 tháng 8 năm 1969), trang 59-72; “Vài vấn đề với Thế Uyên,” Bách Khoa số 303 (ngày 15 tháng 8 năm 1969), trang 72-74.
(11) Nó được tái bản vào năm 1970 và 1973 tại Sài Gòn bởi cùng nhà xuất bản, và một bản được sửa chữa lại được xuất bản tại California bởi nhà xuất bản Việt Báo vào năm 2008.
(12) Giải đầu và giải thứ hai được trao cho 2 nhà văn nữ khác: giải thứ nhất trao cho Túy Hồng cho tác phẩm Những Sợi Sắc Không; giải thứ hai trao cho Nguyễn Thị Thụy Vũ cho tác phẩm Khung Rêu.
(13) Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, 1954-1975 (Nhà xuất bản Vietnamese Language and Culture Publications, Victoria, Úc, 1992), trang 137.
(14) Phim có sẵn trên YouTube và Amazon. Về lịch sử sáng tạo và đóng góp của phim ảnh, xin xem Nguyễn Xuân Nghĩa, “Ngậm ngùi với Đất Khổ,” Việt Báo, Mùa Xuân 2008, trang 56-57.
(15) Xem Larry Berman, No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and Betrayal in Vietnam [Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự: Nixon, Kissinger, và Sự Phản Bội tại Việt Nam] (Nxb Free Press, New York, 2001).
(16) Xin xem điển hình là Trần Trọng Đăng Đàn, Văn Hóa, văn nghệ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Việt Nam 1954-1975 (Nxb Thông Tin, Long An, 1990), trang 618-72.
(17) Jamieson, Understanding Vietnam [Hiểu Việt Nam], trang 364.
(18) Huy Đức, Bên Thắng Cuộc, cuốn 1, Giải phóng (Nxb OsinBook, Sài Gòn, New York, 2012), trang 51.
(19) Tuyên bố của Neil Jamieson là rằng Nhã Ca đã bị tù nhiều năm là không đúng. Jamieson, Understanding Vietnam, trang 364.
(20) Tom Hansson, “Han flydde fran Vietnam – men familjens halls kvar” [Ông rời khỏi Việt Nam – Nhưng Gia Đình Vẫn Còn Bị Giữ Ở Đó], Svenska Dagbladet, ngày 19 tháng 4 năm 1987, được mô phỏng lại trong Nhã Ca, Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1991), trang 524-33.
(21) Hansson, “Han flydde fran Vietnam – men familjens halls kvar,” 524-33.
(22) Hai tác phẩm khác là một cuốn tiểu thuyết, Hoa Phượng, Đừng Đỏ Nữa (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1989), và một tuyển tập truyện ngắn, Sài Gòn Cười Một Mình (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1990).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.