Hôm nay,  

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 2)

05/02/201519:32:00(Xem: 12847)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror

Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: [email protected], 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.


image007Tác giả - Tác phẩm (2)
Người ta có thể nghe tiếng nói rõ và lớn của Nhã Ca chống lại sự hung tàn, mà bà đã chứng kiến sự giết hại giữa người Việt với nhau trong cuộc nội chiến này.
Tiếng nói của bà trở nên cay đắng đặc biệt khi bà mô tả những tàn bạo được thực hiện bởi những người Cộng Sản và những kẻ gia nhập vào lực lượng với họ. Sự hung tàn của Cộng Sản và những tên tay sai của chúng trong Trận Tấn Công Tết thúc đẩy Nhã Ca lần đầu tiên chuyển từ đổ lỗi chiến tranh đối với thảm kịch của người dân Việt Nam, mà bà đã viết trong Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, tới việc ngày càng bày tỏ rõ lập trường chống Cộng. Nó cũng đẩy bà lìa xa hơn ý nghĩa ban đầu của bút hiệu Nhã Ca và những chủ đề mà nó dựng lên, rất gần gũi với trái tim của bà trước giữa thập niên 1960s.(10) Tuy nhiên, bà đã không xóa đi những sự thật phổ quát đối với những người Cộng Sản, những nhà Dân Tộc Chủ Nghĩa, hay người Mỹ bằng việc miêu tả họ trong đen và trắng. Dù giữa cơn ác mộng của Huế, và sau đó viết về nó, bà đã mô tả những điển hình tích cực của lòng nhân đạo trong từng nhóm chiến binh. Trong “Lời Tựa Nhỏ” viết cho Giải Khăn Sô Cho Huế, bà gánh lấy trách nhiệm cho thế hệ của bà đối với thảm cảnh của Việt Nam và của Huế, đã để cho đất nước rơi vào nội chiến đổ nát để lại di sản đổ vỡ cho các thế hệ tương lai. Như tôi sẽ bàn đến trong phần sau, nó là và nó không là quan điểm được mọi người chấp nhận, từ đó đến nay.
Tác phẩm của Nhã Ca đăng báo lần đầu vào năm 1969, được đăng thành nhiều kỳ liên tiếp trong nhật báo Hòa Bình tại Nam Việt Nam từ ngày 30 tháng 3 tới ngày 18 tháng 8. Bà còn nhớ đã bị đe dọa bởi Cộng Sản, họ gửi cho bà nhiều lá thư đòi ngưng đăng loạt bài đó, nhưng bà vẫn tiếp tục cho đăng. Cuối năm 1969 loạt bài đăng nhiều kỳ này được phát hành thành sách bởi nhà xuất bản Thương Yêu, do chính Nhã Ca đã sáng lập.(11) Cùng năm đó nhà xuất bản nói trên cũng đã xuất bản Một Mai Khi Hòa Bình và Tình Ca Cho Huế Đổ Nát, và sau đó, năm 1970 cũng nhà xuất bản này đã xuất bản tác phẩm tiếp theo, Tình Ca Trong Lửa Đỏ.
Nhưng Giải Khăn Sô Cho Huế là (và vẫn là) tác phẩm nổi tiếng nhất của Nhã Ca. Tác giả tặng tất cả tiền thu nhập từ các ấn bản tiếng Việt đầu tiên và sau này của Giải Khăn Sô Cho Huế cho thành phố Huế thân yêu của bà để đóng góp vào sự tái thiết thành phố này sau tàn phá của Trận Tấn Công Tết. Năm 1970 Nhã Ca nhận được sự vinh danh của chính quyền cho Giải Khăn Sô Cho Huế – giải thưởng thứ 3 trong Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc của Tổng Thống trong lãnh vực “Truyện Dài.”(12)
Hoàn cảnh văn học tại Miền Nam vào thời điểm đó thì đa dạng lạ thường. Như đã được đề cập ở trên, hàng trăm tờ báo, tạp chí, và tạp chí chuyên đề được xuất bản, và nhiều nhà xuất bản ấn hành các tác phẩm mới và cũ. Một nhà văn Việt Nam nổi tiếng, Võ Phiến, mô tả sự đa dạng đâm chồi nảy lộc: trong khi những nhà văn như Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Hoàng Chương, và chính Võ Phiến “đã vượt qua những quan tâm và đề tài chính trị để suy tư về thế giới xa cách với những biến cố hiện thời… Phan Nhật Nam, Nhã Ca, và Dương Nghiễm Mậu lên án sự hung tàn của Cộng Sản, trong khi Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lan, Nhất Hạnh, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, v.v… thì tiếp tục tố cáo chính quyền (miền Nam) độc tài và tham nhũng và xã hội (miền Nam) bất công và suy đồi.”(13)
Trong khi một vài người, như Võ Phiến, nhìn thấy Giải Khăn Sô Cho Huế như là sự lên án Cộng Sản tàn ác, thì nó cũng là một thứ chống chiến tranh không thể chối cãi, và một cách nào đó là tác phẩm chống Mỹ. Mối quan hệ giữa Nhã Ca và chính quyền Sài Gòn không êm ấm. Chính quyền thường kiểm duyệt một số ấn phẩm của bà, như họ đã làm với nhiều tác giả khác. Nhưng sự kiện Giải Khăn Sô Cho Huế không chỉ được xuất bản mà còn thắng giải của chính quyền toàn quốc cho thấy các tác giả tại Miền Nam được hưởng tự do tư tưởng nhiều hơn các đồng nghiệp của họ tại Miền Bắc.

Nha film ekipĐoàn làm phim Đất Khổ nghỉ trưa, từ trái: Trịnh Công Sơn, Trần Lê Nguyễn (đang ăn), Nhã Ca, Minh Trang, Lê Trọng Nguyễn... và Đạo diễn Hà Thúc Cần, mũ, kính đen.

Năm 1971 đạo diễn Hà Thúc Cần bắt đầu cho quay cuốn phim có tên Đất Khổ một phần dựa trên Giải Khăn Sô Cho Huế và Đêm Nghe Tiếng Đại Bác.(14) Nhã Ca viết kịch bản phim và tham gia vào nhóm sản xuất. Một nhạc sĩ nổi tiếng, Trịnh Công Sơn, người quý mến Nhã Ca, cũng sống qua ác mộng Tết Mậu Thân tại Huế và là người, cũng như Nhã Ca, ghét chiến tranh, làm diễn viên trong phim. Cuốn phim được hoàn tất vào năm 1972 lúc mà Miền Nam rơi vào hoàn cảnh khốc liệt giữa cuộc tấn công khác của Cộng Sản và những thương lượng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt để dẫn tới cuộc rút quân của Mỹ mà không cần đếm xỉa gì tới số phận của người dân Miền Nam Việt Nam.(15) Chính quyền Miền Nam cấm cuốn phim nói trên bởi vì thông điệp chống chiến tranh mạnh mẽ của nó.


Năm 1972 đạo diễn Lê Dân thực hiện cuốn phim có tên Hoa Mới Nở dựa trên tiểu thuyết của Nhã Ca là cuốn Cô Hippy Lạc Loài. Cuốn sách này vẽ ra bức tranh rõ ràng về sự biến thái của các nhóm thanh niên Việt Nam gây ra bởi chiến tranh, sự có mặt của người Mỹ, và Mỹ hóa nền văn hóa Việt.
Nhã Ca vẫn ở Sài Gòn cho đến khi chiến tranh chấm dứt, xuất bản hơn 30 tác phẩm thơ, truyện, và tiểu thuyết. Hơn nữa, bà và chồng là chủ bút của báo Báo Đen, có mặt từ năm 1971 đến 1973. Họ cũng xuất bản tạp chí có tên Nhà Văn, nhưng chỉ ra được mấy số thì Miền Nam thất thủ trong biến cố tháng 4 năm 1975.
Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, và theo sau là sự thống nhất Việt Nam dưới ách cai trị của Cộng Sản, Giải Khăn Sô Cho Huế bị chính quyền đốt cùng với nhiều tác phẩm của Miền Nam khác mà chính quyền cho là phản động. Tuy vậy, các viên chức chính quyền đã để tác phẩm này trưng bày trong Viện Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh Của Mỹ Ngụy, được thành lập vào tháng 9 năm 1975 tại Sài Gòn, được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh. Cuốn phim Đất Khổ cũng đã bị cấm.(16)
Tác giả, như sách của bà là Giải Khăn Sô Cho Huế, bị cho là phản động. Vào tháng 3 năm 1976 chính quyền Cộng Sản mở chiến dịch chống các nhà trí thức Miền Nam. Neil Jamieson, một học giả chuyên về văn học Việt Nam, mô tả tình cảnh tại Miền Nam Việt Nam sau năm 1975 đã ảnh hưởng đến các nhà văn, nhà thơ, và nhà báo của Việt Nam Cộng Hòa: “Vào tháng 4 năm 1976 các văn nghệ sĩ nào chưa thoát ra khỏi đất nước hay bị bắt giữ đều bị bố ráp trong nhiều cuộc đột kích chớp nhoáng, như thể họ [các nhà trí thức] là những tội phạm nguy hiểm, và bị lùa lên xe tải chở đi các trại lao động như chở heo tới chợ.”(17)
Trong cuốn sách thú vị Bên Thắng Cuộc, nhà báo Việt Nam Huy Đức, đã phỏng vấn nhiều người tham dự vào các biến cố lúc bấy giờ, bàn về thời kỳ đau thương này trong cuộc sống của Miền Nam Việt Nam. Ông kể lại rằng vào ngày 3 tháng 4 năm 1976, Nhã Ca và chồng, Trần Dạ Từ, bị bắt trong chiến dịch này và, giống như hàng trăm nhà trí thức khác được cho là nguy hiểm đối với chế độ mới, đều bị đẩy vào các trại học tập cải tạo.(18) Vào lúc đó họ đã có 6 người con, tuổi từ 1 tới 13, vì cha mẹ bị bắt và tài sản bị tịch thu, đã mất hết phương tiện để sống còn. Người con gái lớn tuổi nhất, thì cũng vẫn còn là con nít ở tuổi 13, phải chăm sóc cho các em của mình. Cuối cùng các em phải tới ở với những người thân. Sau 14 tháng, Nhã Ca được thả ra,(19) nhưng Trần Dạ Từ vẫn còn bị giam cho đến 12 năm. Để sống còn trong thời gian đó, gia đình bắt đầu bán dạo thức ăn. Trong khi Nhã Ca không có ý định rời Việt Nam mà không có chồng bà, bà thường xuyên cố gửi một vài đứa con theo các nhóm người đi vượt biên đường biển mà lúc ấy đã có hàng ngàn người ra đi. Tuy nhiên, mỗi lần như thế đều thất bại với những đứa con của bà bị bắt và đôi khi bị đẩy vào các trại lao động.(20)
Năm 1977, một khuôn mặt văn học nổi tiếng là Mai Thảo, người Miền Bắc di cư vào Nam vào năm 1954 và là người sáng lập kiêm chủ bút các tạp chí và báo văn học như Sáng Tạo, Văn, và Nghệ Thuật, tổ chức vượt biên bằng thuyền từ Việt Nam, với sự trợ lực của Nhã Ca. Khi ông ấy được định cư tại Hoa Kỳ, ông đã công bố tình cảnh thảm khốc của các nhà văn và nhà trí thức Miền Nam tới Văn Bút Quốc Tế (PEN), hội các nhà văn trên toàn thế giới. Phó Chủ Tịch Văn Bút Quốc Tế lúc đó là Thomas von Vegesack, cũng là chủ tịch Văn Bút Thụy Điển. Qua ông ấy, truyền thông Thụy Điển biết rõ về hoàn cảnh các nhà văn Miền Nam, và Tom Hansson của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet tới Việt Nam để tìm hiểu thêm. Năm 1982 Tom Hansson gặp Nhã Ca và một số nhà trí thức khác. Ông thu thập thông tin về hoàn cảnh đau thương của những nhà trí thức: không chỉ nhiều người vẫn còn bị bỏ tù trong các trại học tập cải tạo mà một số đã bị chết, như nhà văn tài hoa Nguyễn Mạnh Côn... Hansson phúc trình những phát hiện của ông cho truyền thông và thông tri những điều đó cho Văn Bút Thụy Điển.
Vào tháng 11 năm 1985 người con trai lớn của Nhã Ca và Trần Dạ Từ, lúc đó 20 tuổi, đã trốn khỏi Việt Nam và vào tháng 9 năm 1986 đã đến Thụy Điển, và được Văn Bút Thụy Điển giúp đỡ.(21) Do các nỗ lực của những người này, cũng như Hội Ân Xá Quốc Tế và các thủ tướng Thụy Điển là Olof Palme và Gosta Ingvar Carlsson, chồng của Nhã Ca, nhà thơ Trần Dạ Từ, được thả ra vào năm 1988, và gia đình được phép đi định cư tại Thụy Điển.
Ở đó Nhã Ca bắt đầu lại việc viết lách. Tại Thụy Điển bà viết 3 cuốn sách, một trong 3 cuốn đó là cuốn Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, mô tả kinh nghiệm của gia đình từ lúc hai ông bà bị bắt vào ngày 3 tháng 4 năm 1976, tới khi họ rời Việt Nam vào ngày 8 tháng 9 năm 1988.(22) Năm 1992 Nhã Ca và Trần Dạ Từ dời qua California để sống và sáng lập tờ nhật báo tiếng Việt là Việt Báo Daily News, hiện có thêm các chi nhánh tại Houston, Texas, và Tacoma, Washington. Hiện nay họ có 7 người con trong gia đình, 5 người sống ở Hoa Kỳ và 2 người sống ở Thụy Điển.
Kỳ tới: Huế và diễn tiến, nơi chốn cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân

*
CHÚ THÍCH

(10) Nhà văn và nhà phê bình văn học Việt Nam nổi tiếng Võ Phiến và Thế Uyên mô tả việc chính trị hóa của Nhã Ca và những tác giả khác trong tạp chí văn học Bách Khoa. “Nói chuyện với Võ Phiến về Tác Phẩm Văn Học và Cuộc Đời,” Bách Khoa số 302 (ngày 1 tháng 8 năm 1969), trang 59-72; “Vài vấn đề với Thế Uyên,” Bách Khoa số 303 (ngày 15 tháng 8 năm 1969), trang 72-74.
(11) Nó được tái bản vào năm 1970 và 1973 tại Sài Gòn bởi cùng nhà xuất bản, và một bản được sửa chữa lại được xuất bản tại California bởi nhà xuất bản Việt Báo vào năm 2008.
(12) Giải đầu và giải thứ hai được trao cho 2 nhà văn nữ khác: giải thứ nhất trao cho Túy Hồng cho tác phẩm Những Sợi Sắc Không; giải thứ hai trao cho Nguyễn Thị Thụy Vũ cho tác phẩm Khung Rêu.
(13) Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, 1954-1975 (Nhà xuất bản Vietnamese Language and Culture Publications, Victoria, Úc, 1992), trang 137.
(14) Phim có sẵn trên YouTube và Amazon. Về lịch sử sáng tạo và đóng góp của phim ảnh, xin xem Nguyễn Xuân Nghĩa, “Ngậm ngùi với Đất Khổ,” Việt Báo, Mùa Xuân 2008, trang 56-57.
(15) Xem Larry Berman, No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and Betrayal in Vietnam [Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự: Nixon, Kissinger, và Sự Phản Bội tại Việt Nam] (Nxb Free Press, New York, 2001).
(16) Xin xem điển hình là Trần Trọng Đăng Đàn, Văn Hóa, văn nghệ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Việt Nam 1954-1975 (Nxb Thông Tin, Long An, 1990), trang 618-72.
(17) Jamieson, Understanding Vietnam [Hiểu Việt Nam], trang 364.
(18) Huy Đức, Bên Thắng Cuộc, cuốn 1, Giải phóng (Nxb OsinBook, Sài Gòn, New York, 2012), trang 51.
(19) Tuyên bố của Neil Jamieson là rằng Nhã Ca đã bị tù nhiều năm là không đúng. Jamieson, Understanding Vietnam, trang 364.
(20) Tom Hansson, “Han flydde fran Vietnam – men familjens halls kvar” [Ông rời khỏi Việt Nam – Nhưng Gia Đình Vẫn Còn Bị Giữ Ở Đó], Svenska Dagbladet, ngày 19 tháng 4 năm 1987, được mô phỏng lại trong Nhã Ca, Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1991), trang 524-33.
(21) Hansson, “Han flydde fran Vietnam – men familjens halls kvar,” 524-33.
(22) Hai tác phẩm khác là một cuốn tiểu thuyết, Hoa Phượng, Đừng Đỏ Nữa (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1989), và một tuyển tập truyện ngắn, Sài Gòn Cười Một Mình (Nxb Thương Yêu, Westminster, CA, 1990).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.