Hôm nay,  

An Ninh Lương Thực Tại Trung Quốc

4/17/201400:00:00(View: 6084)

...dân số cực đông, Trung Quốc là một xứ đói ăn, khát dầu và thiếu nước...

Trong Tháng Năm, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin sẽ thăm viếng Trung Quốc và dư luận chờ đợi lãnh đạo hai nước sẽ thảo luận về điều kiện mua bán khí đốt, một sản phẩm chiến lược của Nga đang có tầm quan trọng hơn sau vụ khủng hoảng Ukraine. Tuy nhiên, Trung Quốc còn cần một sản phẩm có ý nghĩa sinh tử hơn, đó là lương thực. Bắc Kinh giải quyết bài toán này như thế nào? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vấn đề qua cuộc trao đổi với kinh tể gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trên diễn đàn này ông thường nói năng lượng là sản phẩm chiến lược cho việc công nghiệp hóa các quốc gia, nhưng lương thực mới là một sản phẩm sinh tử vì không có thì chết. Trong ý nghĩa đó, trường hợp Trung Quốc rất đáng chú ý vì diện tích canh tác của lãnh thổ chưa tới 10% của địa cầu mà phải nuôi một dân số gấp đôi, là 20% dân số toàn cầu. Nếu Liên bang Nga có thể là nguồn cung cấp năng lượng cho Trung Quốc qua kế hoạch bán khí đốt mà lãnh đạo hai nước sẽ mặc cả khi Tổng thống Vladimir Putin của Nga thăm Bắc Kinh vào tháng tới, lãnh đạo Trung Quốc giải quyết vấn đề lương thực của họ theo hướng nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Với kích thước rất lớn và dân số cực đông, Trung Quốc là một xứ đói ăn, khát dầu và thiếu nước. Chẳng những vậy, từ khẩu hiệu "tự lực cánh sinh" thời Mao Trạch Đông cho đến mục tiêu "an ninh lương thực" thời nay, lãnh đạo xứ này chưa giải quyết được việc áo cơm cho thoả đáng nên miếng ăn là bài toán sinh tử cho Trung Quốc qua hai con số ông vừa trình bày, diện tích khả canh chưa bằng 10% mà phải nuôi một dân số bằng 20%.

- Nhưng tình hình còn gay go hơn vậy cho nên trong tháng trước, Quốc vụ viện của Bắc Kinh qua báo cáo của viên Tổng lý là Thủ tướng Lý Khắc Cường đọc một giờ rưỡi trước kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa 12 và qua Chỉ thị Phát triển Lương thực và Dinh dưỡng từ 2014 đến 2020 mới nhấn mạnh đến việc đầu tư vào đất đai và nông nghiệp để giải quyết nhu cầu thức ăn ngày càng tăng của người dân. Tôi nghĩ rằng kết quả sẽ là sự thất vọng.

Vũ Hoàng: Xin ông lần lượt giải thích những nguyên nhân vì sao kết quả sẽ là sự thất vọng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là về điều kiện khách quan của địa dư hình thể thì chỉ có 15% diện tích của 10 triệu cây số vuông tại Trung Quốc là có thể canh tác. Tính theo đầu người bây giờ chỉ bằng một phần ba của bình quân thế giới, trong khi xứ này lại quốc gia thiếu nước nhất tại lục địa ít nước nhất địa cầu là Châu Á. Ai lên lãnh đạo Trung Quốc cũng gặp những bài toán ấy và đều nhớ rằng nhiều biến động lịch sử đã bùng nổ vì nạn đói.

- Chuyện thứ hai, cũng về số cung, thì trên lãnh thổ thật ra nghèo nàn và khô cằn đó, diện tích canh tác còn bị thu hẹp dần bởi hai hiện tượng là nạn sa mạc hóa và đất bạc mầu sau bao đời theo nhau đào xới cấy cầy. Chuyện thứ ba, lãnh đạo đời nay gặp hiện tượng mới là đô thị hóa và gây thêm vấn đề khác là làm cạn nước và ô nhiễm môi trường, khiến đất hẹp còn bị thiếu nước lành ở dưới, thậm chí thiếu cả ánh sáng ở trên vì nhiều nơi bao trùm dưới khói độc. Vì hoàn cảnh đó việc khai thác nông sản mới bị giới hạn và dù ngày nay có sản lượng lúa gạo cao nhất thế giới, Trung Quốc vẫn thiếu lương thực.

Vũ Hoàng: Đó là về khả năng cung ứng của đất đai và con người, còn về số cầu thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về lương thực, ta nghĩ đến gạo là nhu cầu chính của người dân tại miền Nam Trung Quốc và mì là sản phẩm được tiêu thụ nhiều ở miền Bắc. Ngoài ra, phải kể ra khoai sắn, ngũ cốc hay loại hạt thô như ngô đậu để ăn no. Muốn ăn ngon và bổ thì phải có trứng, sữa và thịt, là nông sản gốc mục súc chứa nhiều chất đạm và chỉ có nếu dùng ngô bắp làm thực phẩm nuôi gia súc.

- Từ khi cải cách kinh tế hơn 35 năm về trước, đời sống người dân có tiến bộ nên theo cơ quan Lương nông Quốc tế FAO chỉ còn chừng 12% dân số xứ này là bị nạn suy dinh dưỡng. Tiến bộ đó khiến người dân không chỉ cầu đủ no mà còn muốn ăn ngon và bổ hơn, tức là số cầu về trứng sữa hay thịt cá đều tăng. Khi ấy số cầu về thực phẩm cho gia súc mới đặt ra bài toán mới là Trung Quốc cần nhiều ngô bắp và đậu nành chứ không chỉ tự thoả mãn với bát cơm hay bát mì.

- Từ khi cải cách thì sản lượng loại cây lương thực như ngô đậu hay hạt có dầu của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, coi như tăng 2% một năm, và lên tới hơn 600 triệu tấn. Vậy mà vẫn chưa đủ cho nhu cầu nên xứ này phải nhập khẩu. Và yêu cầu về an ninh lương thực do lãnh đạo đặt ra là phải bảo đảm được 95% số tiêu thụ nội địa về gạo, mì và bắp, yêu cầu đó vẫn khó đạt vì khả năng cung cấp có hạn. Năm ngoái, tổ chức OECD, Hợp tác và Phát triển Kinh tế, và cơ quan Lương nông FAO, dự báo là từ nay đến năm 2020, Trung Quốc vẫn phải nhập đậu nành, với số lượng ngày một nhiều hơn.

Vũ Hoàng: Ngoài những giới hạn về khả năng cung ứng như ông vừa trình bày thì đâu là những vấn đề khiến Trung Quốc vẫn là một xứ thiếu ăn và phải nhập khẩu lương thực?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta vẫn khởi đi từ bài toán của thiên nhiên rồi mới nói tới khả năng giải quyết của con người. Trước hết là sự phân bố về địa dư của nơi sản xuất. Nơi sản xuất gạo và mì là tập trung tại miền Đông-Bắc và vùng Trung Nguyên, hay tỉnh Tứ Xuyên là nơi có gạo. Còn ngô đậu thì cũng ở khu vực Đông-Bắc, nhiều nhất sau này là tỉnh Hắc Long Giang, các nông trại nuôi heo lợn cũng thế, thường tập trung ở các tỉnh trồng ngô. Đó là về sản xuất, về tiêu thụ thì ta lại phải nói đến sự phân bố dân số ở khắp mọi nơi. Vì thế, có lương thực rồi, người ta vẫn cần tới hệ thống vận tải và phân phối, tức là phải có cầu đường, là chuyện không dễ mà đắt.

- Mà việc sản xuất ngũ cốc vẫn bị trở ngại vì diện tích canh tác thu hẹp dần trước đà đô thị hóa và theo Bộ Tài nguyên và Đất đai của Bắc Kinh, tới 2% diện tích khả canh của Trung Quốc bị ô nhiễm đến độ không thể trồng trọt gì được. Vì thế, trong báo cáo tháng trước, Thủ tướng Lý Khắc Cường mới đòi khai chiến chống ô nhiễm và đẩy mạnh việc hiện đại hóa nông nghiệp.

Vũ Hoàng: Nếu lãnh thổ bên trong có quá nhiều hạn chế cho sản xuất thì Trung Quốc vẫn có thể nhập khẩu. Hoặc còn tiến xa hơn vậy, tức là thuê đất canh tác ở xứ khác để đảm bảo nguồn cung cấp ngay tận gốc. Hình như là họ có làm như vậy rồi và đâu là những trở ngại?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về giải pháp nhập cảng, tôi xin đề nghị là ta cùng nhìn vấn đề một cách toàn diện vì có thể rút tỉa nhiều bài học cho mình.

- Khi mua ngũ cốc, ta phải trang trải các phí tổn cơ bản là nước, phân, cần, giống, tiền chuyên chở và doanh lợi. Vì thế, khi nhập một tấn ngô đậu, Trung Quốc nhập cả... tiền nước tiêu tưới của xứ khác. Khi kiểm soát một phần của Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Thang Tạng, từ đầu nguồn của nhiều con sông lớn tại Châu Á, họ hủy hoại mạch nước cho các quốc gia dưới hạ nguồn, kể cả Việt Nam, và nay đòi mua nước trong hạt của xứ khác. Chuyện ấy ta nên nhìn ra!

- Chuyện thứ hai, Trung Quốc đã từng từ chối loại thực phẩm có biến đổi gen – gọi là genetic modified foods - do Hoa Kỳ xuất khẩu vì bảo là có hại cho sức khoẻ người tiêu thụ. Trong khi đó, các tập đoàn về lương thực của họ lại ngầm ăn cắp công nghệ biến gen của doanh nghiệp Mỹ như DuPont, Montsanto và Ventria Bioscience. Toà án Mỹ tại các tiểu bang Iowa và Kansas đang điều tra vụ ăn cắp này, cho nên chuyện Trung Quốc nhập khẩu lương thực cũng có vấn đề.

- Phần mình, Bắc Kinh không quên là khi mua lương thực thì họ gặp bất trắc về giá cả, như trong vụ lương thực lên giá vào năm 2008. Vì thế, họ muốn mua từ gốc với hợp đồng dài hạn về giá cả và giải pháp đầu tư vào canh nông của xứ khác như ông vừa nhắc tới đã được áp dụng.

Vũ Hoàng: Thưa ông, phải chăng giải pháp đó cũng có gây tai tiếng là lũng đoạn xứ khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quốc gia nào cũng có thể nghĩ đến việc đầu tư vào xứ khác để có loại hàng hóa mà mình cần ở nhà. Trước Trung Quốc bốn chục năm, Nhật đã đầu tư vào xứ khác để bảo đảm nguồn cung cấp về năng lượng và khoáng sản. Trước Trung Quốc năm năm, Nam Hàn đã thuê nhiều nông trại ở xứ khác và dẫn đầu Trung Quốc về phương pháp đó. Nhưng hai nước Đông Á thiếu tài nguyên này đã không khuynh đảo xứ khác và gây hiệu ứng cho thị trường thế giới nên hầu như chẳng ai còn nhắc tới. Trường hợp Trung Quốc lại khác.

- Ngoài lĩnh vực năng lượng và khoáng sản gốc kim loại với phản ứng tiêu cực của các nước, thì từ năm 1996 Bắc Kinh đã vừa che giấu vừa tiến hành việc đầu tư vào đất canh tác của xứ khác như Cuba, Lào, Mexico và Phi Luật Tân. Rồi họ đẩy mạnh từ năm 2008 vào xứ Kazakhstan, Úc và nhất là các nước Phi Châu. Khi ấy, ta thấy ra hai hiện tượng trái ngược.

- Các nước nghèo tại Châu Phi lên án tinh thần "thực dân mới" của Trung Quốc và phê phán doanh nghiệp Trung Quốc không có chuyển giao công nghệ và còn giấu nghề trong các nông trại biệt lập của họ như những vùng tô giới. Ngược lại, một xứ tiên tiến như Úc thì than phiền cái thói ăn cắp công nghệ để trục lợi. Trong khi đó, tại Phillippines, tập đoàn kinh doanh về lương thực của Trung Quốc bị liên lụy vào chuyện tham nhũng để mua chuộc Chính quyền của Tổng thống thời đó là bà Gloria Macapagal-Arroyo. Nói chung, vì những chuyện đó, uy tín của Trung Quốc bị sứt mẻ trong khi nỗ lực đầu tư ra ngoài để bảo đảm an toàn lương thực vẫn không làm thay đổi quan hệ cung cầu trên thế giới.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, chúng ta có thể kết luận được những gì về chuyện an toàn lương thực của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là dù Trung Quốc đã có kế hoạch quy mô để giải quyết bài toán lương thực, tác dụng của họ vẫn không gây ảnh hưởng đến số cung hay giá nông sản trên thế giới theo chiều hướng có lợi, như họ đã thể hiện trong lĩnh vực năng lượng hay kim loại. Ngược lại, Trung Quốc vẫn bị ảnh hưởng nặng từ thị trường lương nông quốc tế và đấy mới là mối nguy sinh tử khi họ nói đến chuyện an ninh về lương thực.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.