Hôm nay,  

Trang Sử Việt: Lý Thường Kiệt

26/11/201300:00:00(Xem: 13369)
Nguyễn Lộc Yên
(Lời tâm tình: Bài viết chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của đề tài. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt và Trang Đất Việt được đăng hằng tuần, luôn momg mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, quê hương).

.

LÝ THƯỜNG KIỆT
(1019 - 1105)

Lý Thường Kiệt, theo phả hệ của họ Ngô, ông tên thật là Ngô Tuấn, là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí (dòng dõi Ngô Quyền). Quê phường Thái Hòa, Thăng Long. Khi còn ít tuổi, được sung làm Hoàng môn chi hậu, cũng gọi là Thái giám theo hầu Lý Thái Tông vào năm 1041.

Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Tất cả 5 châu 6 huyện, 24 động đều quy phục triều đình.

Năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt làm tiên phong đi đầu, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng Chế Củ chịu hàng, dâng 3 châu (Bố chính, Ma Linh và Địa Lý) để được tha về nước.

Đời Tống Thần Tông (1068-1078), nhà Tống (Tàu) có Vương An Thạch là một chính trị gia có nhiều mưu chước và tham vọng, muốn cải tổ việc chính trị trong nước và mở rộng đất đai nhà Tống, cả phía bắc và phía nam. Họ Vương đã đặt ra: Phép “thanh miêu” là nhà nước cho nông dân vay khi lúa còn non, rồi trả vốn và lời khi lúa chín. Phép “bảo giáp” là bắt 10 nhà lập thành một bảo, mỗi bảo có hai người chỉ huy, tập luyện quân sự và phép “bảo mã” là giao ngựa cho các bảo nuôi, nếu ngựa chết thì bồi thường bằng tiền hay mua ngựa khác (tương đương) thay thế... Vì vậy dân Tàu ai oán. Khi Tống triều sai Binh bộ Thị lang Thẩm Khởi chuẩn bị xuất quân xâm lăng Đại Việt, Thẩm Khởi dụ dỗ các tù trưởng của Đại Việt ở gần biên giới theo Tống như: Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Nùng Thiện Mỹ ở Bắc Cạn...

Để trừ cuộc xâm lăng ấy, Đại Việt phải đánh Tống trước, tránh tang tóc bởi chiến tranh trên quê hương. Trước khi phạt Tống, Lý Thường Kiệt cho người Tàu biết Vương An Thạch đã đặt ra chính sự khó khăn, Đại Việt của nhà Lý muốn xóa bỏ chính sách hà khắc của Tống triều, để giúp nhân dân Tống khỏi gian nan.

Lý Thường Kiệt cùng phó tướng Tôn Đản đem mười vạn quân Bắc phạt. Lý Thường Kiệt đem quân đánh Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông), ông chỉ huy công thành, chỉ 3 ngày thành vỡ và 8.000 quân Tống bị tiêu diệt. Tôn Đản đem quân đánh Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây), Ung Châu bị quân đại Việt vây ngặt, tướng Tàu là Trương Thủ Tiết đem quân từ Quế Châu cứu viện, bị Lý Thường Kiệt chận đánh tan tác, chém Trương Thủ Tiết rơi đầu. Ung Châu bị vây 40 ngày thì thành thất thủ, Tô Đam tự tử. Cảnh cáo nhà Tống xong, ông cho rút quân về nước phòng giữ. Năm 1076, tướng Tống là Quách Quỳ và Triệu Tiết đem quân đánh nước ta, khi giặc tiến đến sông Như Nguyệt (sông Cầu, Bắc Ninh) thì ông đem quân đánh đuổi và giết cả ngàn quân giặc. Nhưng chúng ỷ đông và quyết chí báo thù nên rất hung hãn. Lý Thường Kiệt làm bài thơ cho người vào đền thờ Trương Hát (có tài liệu nói rằng Trương Hát hiển linh và đọc bài thơ này giúp Đại Việt) đọc vang dội như giọng thần linh:

“Nam quốc san hà nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Nghĩa là:

Phương Nam là đất của vua Nam
Trời định rõ ràng, sách đã ban
Nếu giặc hung hăn sang xâm lấn
Lẹ làng đánh đuổi, chốc tiêu tan


Nghe xong, quân ta nức lòng đánh giặc và đem về chiến thắng vẻ vang, đây là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước ta. Mặc dù chiến thắng, nhưng xét rằng, nhà Tống vì thể diện, sẽ tiếp tục chiến tranh, nhân dân sẽ tang tóc, nên giải hòa với Tống. Đại Việt cử sứ thần Đào Tôn Nguyên đưa 5 con voi đã thuần sang Tống, để nối lại bang giao 2 nước và đòi lại những châu ở Cao Bằng. Khi quân Tống chiếm được đất này đổi tên Quảng Nguyên là Thuận Châu, đặt 3000 quân để giữ. Tống triều ưng thuận với điều kiện là Lý triều phải trả lại cho Tống những người dân các châu Khâm, Liêm, Ung, quân Đại Việt đã bắt vào năm 1075, tất cả 221 người. Trước khi cho bọn này về Tàu. Lý triều cho thích vào trán, con trai từ 15 tuổi trở lên ba chữ “Thiên tử binh”, đàn ông từ 20 tuổi trở lên thích chữ “Đầu Nam Triều” và vàocánh tay trái đàn bà con gái hai chữ “Quan Khách”.


Năm 1103, Lý Giác làm phản ở Diễn Châu (Nghệ An) Lý Thường Kiệt đem quân đánh tan. Năm 1104, vua Chiêm là Chế Ma Na đánh lấy Ma Linh, Bố Chính, ông đã trên 80 tuổi, vẫn xin vua đem quân trừ giặc. Sau khi thắng trận trở về thời gian, vào tháng sáu năm Ất dậu (1105) thì ông mất, hưởng thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tông truy tặng ông Nhập nội Đô Tri Kiểm, hiệu Thái úy Bình chương quân Quốc trọng sự, Việt quốc công. Ông mất, ai ai cũng ngậm ngùi tiếc thương.

Trong thời nhà Lý, cuốn “An Nam Hành Quân Pháp” của Lý Thường Kiệt, rất nổi tiếng, trong sách “Vân đài loại ngữ,” sử gia Lê Quí Đôn ghi: “Sử nhà Tống đã viết, vua Tống sai Thái Diên Khánh đang làm tri phủ ở Hoạt Châu, tìm cuốn An Nam hành quân pháp, để quân Tống sẽ phỏng theo binh chế của An Nam” (An Nam hành quân pháp, xem trang Binh thư và Võ thuật VN).

*- Thiết nghĩ: Nguyên nhân nào khiến cho Lý Thường Kiệt, khi còn trẻ đã trở thành Thái giám là một thắc cả cổ kim?!. Tương truyền, ông trở thành Thái giám có thể do 2 lý do.

- Thứ nhất: Năm 1041, “Vua Thái Tông thấy Lý Thường Kiệt khi còn trẻ dung mạo đẹp đẽ, tài năng xuất chúng, nên khuyên tự thiến để tiện việc gần gũi nhà vua trong cung cấm.

- Thứ hai: Có tính thuyết phục hơn: Lý Thường Kiệt có một mối tình với Dương Hồng Hạc, Hồng Hạc cháu gọi Hoàng hậu Thiên Cảm (Hoàng hậu của vua Lý Thái Tông) bằng cô. Hoàng hậu Thiên Cảm muốn tạo thêm thế lực cho họ Dương, bà đem Hồng Hạc là cháu ruột gả cho Thái tử Lý Nhật Tôn, để sau này Hồng Hạc sẽ tiếp tục là Hoàng hậu của Lý triều.

Thái tử Nhật Tôn (sau này là Lý Thánh Tông) đã được cảnh giác là họ Dương đang lộng quyền, có thể sẽ soán ngôi, vì vậy Nhật Tôn luôn xa lánh Hồng Hạc. Trong khi ấy Nhật Tôn rất thân thiện với Thường Kiệt, còn nhận Thường Kiệt làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi của vua). Hoàng hậu Thiên Cảm và Hồng Hạc lại nhờ Thường Kiệt khuyên Thái tử ở lại Đông cung, để gần gũi và “ban hồng ân” cho Hồng Hạc. Nhưng Thường Kiệt đã không nhận lời, nên bị họ đánh thuốc mê rồi bức hại trong một đợt tịnh thân các hoạn quan?! Có lẽ vì vậy, mà sau này ông đứng hẳn về phía bà Hoàng Thái phi (Ỷ Lan), chống lại bà Thượng Dương Hoàng hậu.

Lý Thường Kiệt, ai cũng biết là một nhà quân sự lỗi lạc, nhưng mấy ai biết ông còn là một chính trị gia xuất sắc. Khi biết nhà Tống manh nha xâm lăng Đại Việt. Tại Lý triều, ông khôi phục được hòa khí của nội bộ quý tộc. Bên ngoài, tạo sự đoàn kết với các tù trưởng của dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc. Bình Chiêm nhanh chóng để ổn định mặt phía Nam. Kế đến, đang khi đem 10 vạn quân phạt Tống, ông cho bá cáo “lộ bố văn” (bài văn nói rõ lý do đánh Tống), cho dân Tống biết lý do phạt Tống lần này, là trừ chính sách sai lầm của Vương An Thạch, để giúp dân Tống. Vì vậy, quân Đại Việt viễn chinh lúc ấy, được sự ủng hộ của đồng bào Việt và dân Tống. Một chính trị gia xuất sắc nhự vậy, nếu Khổng Minh còn sống, chắc chắn phải bái phục Thường Kiệt, vì Khổng Minh chưa bao giờ biết mưu lược tài tình như thế.

Trong Việt sử tiêu án, sử gia Ngô Thì Sĩ đã cảm phục sách lược dụng binh của Lý thường Kiệt: “bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ tre, lúc tới không ai dám địch, lúc rút quân không ai dám đuổi, dụng binh như thế, phải nói nước ta chưa từng có bao giờ”?. Đúng vậy, ông tiên liệu trước mỗi bước đi của quân thù; nên sau khi phạt Tống, rút quân về nước an toàn, liền củng cố phòng tuyến ở phía bắc sông Như Nguyệt, để phòng ngự giặc. Sau đấy, ông còn làm bài thơ “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ bất hủ để cổ vũ tinh thần binh sĩ, đem về chiến thắng huy hoàng.

Cảm phục: Lý Thường Kiệt

Mưu lược, binh thư chất chứa lòng
Lý triều tin cậy, há thong dong?!
“Tuyên ngôn” sâu sắc đời ghi nhớ
“Binh pháp” cao thâm thế thủ công
.
Nhanh nhẹn bình Chiêm, rầm rộ tiến
Lẹ làng phạt Tống, lẫy lừng trông
Anh hùng hiển hách lưu kim cổ!
Gương sáng, muôn đời rạng núi sông!


Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.