Hôm nay,  

Những Thủy Thủ Già Việt Nam

04/05/201200:00:00(Xem: 14897)
Đã 37 năm xa biển, xa tàu kể từ 30 tháng tư 1975. Những thủy thủ VNCH ngày xưa nay người trẻ nhất cũng đã sáu chục và người lớn tuổi nhất cũng đã trên tám mươi. Thời gian trôi qua nhanh như một dòng sông và rồi tất cả thủy thủ còn lại nầy sẽ chờ ngày ra biển khơi lần cuối. Đó là biển khơi của cuộc đời. Nhân dịp tháng tư đen, chúng ta gặp nhau để ôn lại vài điều đáng ghi nhớ về các thủy thủ Việt Nam.

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, một cuộc họp tại vịnh Hạ Long, giữa cao ủy Pháp Robert và 8 vị đại diện các đảng phái Việt Nam gồm các ông Nguyễn Văn Xuân, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí, Nguyễn Khoa Toàn, Dình Xuân Quảng, Trần Văn Hữu, và Lê Văn Hoạch, dưới sự chứng kiến của Cựu Hoàng Bảo Đại. Sau đó, ngày 8 tháng 6 năm 1949, tại điện Elysée, Paris, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol đã long trọng cùng Hoàng Đế Bảo Đại, Quốc Trưởng Việt Nam ký một văn kiện xác nhận và nói rõ việc Pháp trao trả toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam và công nhận nền độc lập của Việt Nam(1).

Căn cứ vào văn kiện nầy, các cơ chế của Quốc Gia Việt Nam được chính thức thành lập. Trong cơ chế nầy có quân đội Quốc Gia Việt Nam, trong đó có Hải Quân. Hải Quân Việt Nam được chính thức thành lập bởi dụ số 2, ban hành ngày 6 tháng 3 năm 1952. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được xây cất ngày 12 tháng 7 năm 1951. Tháng 9 năm 1952, các khóa huấn luyện Sĩ Quan và Doàn Viên được bắt đầu. Những năm đầu Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang thuộc Hải Quân Pháp. Sau hiệp định Geneve, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Pháp chuyển giao Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang cho Hải Quân Việt Nam vào tháng 7 năm 1955.

Các Sĩ Quan Hải quân khóa 1 có 6 vị ngành chỉ Huy là các ông Lê Quang Mỹ, Trần Văn Chơn, Lâm Ngươn Tánh, Chung Tấn Cang, Trần Văn Phấn, Hồ Tấn Quyền. Và 3 Sĩ Quan ngành cơ khí là các ông Đoàn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Lịch, Lương Thanh Tùng. Ngày 12 tháng 7 năm 1952, Trung Tâm Huấn Luyến Hải Quân Nha Trang bắt đầu huấn luyện khoá 1 Đoàn Viên tức các Thủy Thủ chuyên nghiệp đầu tiên gồm 150 khóa sinh, sau đó 25 khóa sinh ưu tú được lựa chọn để theo học khóa 1 Hạ Sĩ Quan(Maistrancier) tại Việt Nam và một số khoảng 12 người lần lượt qua Pháp học các lớp cao đẳng chuyên nghiệp, thời gian học tập là 8 tháng. Thời đó các thủy thủ Việt Nam đều là các chàng trai trẻ, khỏe, đẹp. Tùy khả năng và kiến thức, mỗi người được lựa chọn vào một nghề riêng và phải có trình độ tiếng Pháp khá nghĩa là phải biết nói và viết được tiếng Pháp, tương đương với lóp đệ tứ thời bấy giờ vì chương trình giảng dạy đều bằng Pháp ngữ và các giảng viên và huấn luyện viên đều là người Pháp.

Qua những oan khiên chồng chất, những nổi đau quằn quại của cuộc chiến Việt Nam và cuộc sống nhiều thách thức trên xứ người. Những thủy thủ già thỉnh thoảng tìm gặp nhau trên các quán cà phê vỉa hè hay một nơi nào đó quen thuộc trong các khu người Việt sinh sống trên đất khách quê người. Các chàng trai oai hùng ngày nào với màu áo xanh nước biển ngang dọc trên các Duyên Đoàn, Giang Đoàn hay các thủy thủ với áo trắng tung bay trên các chiến hạm ra khơi nay tóc đã ngã màu bạc trắng như bọt biển. Bên ly cà phê nóng, họ thường nhắc đến những câu chuyện xưa trong các chuyến hải hành trên sông, trên biển. Họ cũng say sưa kể lại cho nhau nghe các hải cảng khắp các đại dương và các người tình xa lạ. Đôi lúc họ lại nhắc đến tên một vài người bạn đã gục ngã trong các trận đánh kinh hồn giữa ta và địch ở các địa danh như Tuyên Nhơn, Hồng Ngự, Ba Rài, Cổ cò, U Minh, Hàm Luông, Ba Động, Vũng Rô, Hoàng Sa…Họ là các thủy thủ, dày dạn gió sương, mê cuộc sống hải hồ, nhanh nhẹn, trẻ trung đủ các cấp bậc và ngành nghề như Bí Thư, Kế Toán, Giám Lộ, Trọng Pháo, Vận Chuyển, Cơ Khí, Phòng Tai, Điện Khí, Điện Tử, Thám xuất, Vô Tuyến, Quản Kho, Y Tá, Tiếp Vụ, Hỏa Đầu Vụ. Những lớp thủy thủ đầu tiên sau nầy là những cán bộ nòng cốt, là những viên gạch chắc chắn, bền vững cho toàn bộ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

thuy_thu_gia

Ảnh do Lưu Thanh Vương chụp. Hàng đầu từ trái sang phải: Lương Thanh Vương, Bùi Văn Chuốt, Nguyễn Ban, Nguyễn Triệu Khâm, Lê Huệ Nhi(Úc), Đặng Văn Nhi.Hàng nhì (ngồi) từ trái sang phải:Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Đình Đông, Hoàng Thọ Thu, Đào Ngọc Thanh, Trần Văn Khê, Nguyễn Hào Cường, Lý Thành Quy, Cao Hữu Vinh, Hồ Tấn Thuần.Hàng ba từ trái sang phải: Phạm Trãi, Ngô Văn Điều, Lê Thành Võ, Tô Văn Phương, Trần Hữu Khánh, Trần Hữu Thu, Huỳnh Văn Treo, Vũ Đình Thọ, Dương Bạch Quang, Đỗ Công Thành, Trần Hữu Phụng, Hoàng Đình Báu, La Xuân Kiều, Nguyễn Phú Lợi, Mã Thành Tâm, Huỳnh Kim Gia, Trần Quang Tài, Trần Đình Liệu, Nguyễn Ngọc Bạch, Châu Ngọc Tuấn, Nguyễn Hữu Xuân.
Như vậy Hải Quân là một quân chủng với nhiều ngành nghề chuyên nghiệp. Năm 1952 là năm đầu tiên trường Sĩ Quan Hải Quân cũng như trường Đoàn Viên Hải Quân được thành lập và ra đời. Kể từ đó đến nay đã tròn 60 năm. Để đánh dấu một đoạn đường dài, một số thủy thủ già Việt Nam muốn rủ nhau ăn một bữa cơm thân mật ở nhà hàng California tại miền Nam Cali Chủ Nhật ngày 15 tháng 4 năm 2012. Đứng ra mời gọi có các anh Cao Hữu Vinh, Trần Quang Tài, Trần Hữu Phụng …

Hiện diện trong bữa cơm hôm đó có 6 vị thâm niên thuộc khóa 1 Đoàn Viên như ông Trần Văn Khê, Cao Hữu Vinh, Nguyễn Hào Cường, Hoàng Thọ Thu, Đào Ngọc Thanh và Lý Thành Quy và nhiều vị của các lớp sau. Ngoài ra cũng có nhiều cựu Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang đến tham dự như NT Huỳnh Kim Gia, NT Nguyễn Hữu Xuân và các Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang khóa 11, khoá 12 và khoá 13. Tổng cộng gần 50 vị. Anh Cao hữu Vinh đại diện các cựu thùy thủ Hải Quân Việt Nam đầu tiên đứng lên nói lý do buổi cơm thân mật. Anh Trần QuangTài đi từng bàn rót chút rựơu vang đỏ vào ly mỗi người để tỏ tình đoàn kết, gắn bó qua bao năm tháng xa quê hương của những người lính biển. Anh Tài còn có biệt danh là Tài Béo, trước năm 1975, anh là chủ Nhà Hàng Nổ(Liamone) của Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Hải Quân đậu trên sông Sài Gòn cạnh Hải Quân Công Xưởng. Được biết anh Vinh cũng là người Hạ Sĩ Quan đầu tiên làm thuyền trưởng Giang Vận Hạm LCU ( Landing Craft Utility)HQ 533.

Sau năm 1975, các cựu chiến sĩ Hải Quân VNCH lần lượt qua Mỹ theo nhiều diện khác nhau và cũng đã gặp nhiều khó khăn ban đầu nhưng rồi những con cháu lại thành công trên nhiều mặt của xã hội mới. Không thiếu những bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ, thương gia, công chức cao cấp trong chính quyền cũng như trong quân đội Hoa Kỳ là con cháu của các vị thủy thủ già nầy. Thật đáng hãnh diện!

Bữa cơm thân mật bắt đầu lúc 10 giờ 30. Đây chỉ là một cuộc gặp mặt nhỏ các cựu thủy thủ ở hải ngoại vùng Orange County mà thôi. Tất cả nâng ly chúc sức khoẻ nhau và mong thỉnh thoảng có những buổi gặp mặt thân mật như vậy để hàn huyên tâm sự trong không khí chan hòa nắng ấm của miền Nam California.

Đối diện chúng tôi lả người thủy thủ già Trần Văn Khê tuy đã 85 nhưng vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn. Anh Nguyễn Hào Cường tuổi trên 80, rất nhệ sĩ, sẳn sàng biểu diễn kèn “harmonica” khi anh em yêu cầu. Anh Lý Thành Quy, một thủy thủ già luôn sốt sắng và nhiệt tình yểm trợ Đặc San Lướt Sóng, tờ báo của Hội Ái Hữu Hải Quân VNCH. Các anh còn lại người nào cũng còn nhanh nhẹn và yêu đời. Nhân dip họp mặt bất thường nầy tôi đã quen biết anh Lưu Thanh Vương, xưa là một thủy thủ trọng pháo, nay là một nhiếp ảnh gia nghệ thuật VN tại Hoa Kỳ 1983. Anh cũng đã xuất bản sách ảnh nghệ thuật ”My Homelands” với nhiều hình ảnh đẹp của nước Mỹ và của quê hương Việt Nam dấu yêu.

Qua sự ước lượng của các vị cựu Hải Quân có khoảng gần 70 ngàn thanh niên Việt Nam đã phục vụ dưới lá cờ của HQ Việt Nam Cộng Hòa. Mà những thủy thủ già nầy là những người tiên phong đã có những hoạt động tích cực trong thời gian ở Hải Quân. Hy vọng các thế hệ sau, con cháu của những người lính biển nầy sẽ hiểu được thêm về những điều mà các em chưa biết về cha ông mình đã làm gì trong một chiều dài cuộc chiến hơn 20 năm.

Tham dự bữa cơm thân mật của những thủy thủ già mới thấy cái thân thiết của những chàng trai hải hồ xưa. Hinh như nói chuyện với nhau một hồi thì ít nhiều ai cũng biết nhau, không Giang Đoàn thì Duyên Đoàn, không Hạm Đội thì Bộ Tư Lệnh Vùng. Càng nói chuyện càng xích gần nhau như trong một đại gia đình. Hàn huyên tâm sự trong bầu không khí ấm áp mới thấy tình chiến hữu khi tuổi về già.

Hôm nay, tất cả gần 50 người cựu thủy thủ Việt Nam ngồi ở đây chỉ mơ ước một Việt Nam sớm có thanh bình, tự do và dân chủ. Họ không bao giờ quên những nhánh sông quen, những vùng biển lạ, và cả những ánh sáng lập lòe của các ngọn hải đăng trong các chuyến hải hành khi đêm xuống và trong mưa gió bão bùng. Người thủy thủ già nay ngồi nhớ chiến hạm, nhớ dòng sông, nhớ hải đảo như những người tình ray rức nhớ nhau. Dù tuổi già chồng chất, người thủy thủ vẫn còn mang áo trắng trong trái tim như hoa biển vương đầy thân chiến hạm. Dù ở đâu, người thủy thủ già vẫn còn mộng phiêu du, khát khao ngày tháng cũ để có dịp về thăm lại quê hương, tìm lại giấc mộng ban đầu. Tuy đôi chân không còn cứng cáp như xưa nhưng ánh mắt, nụ cười tiễn đưa nhau ngày đó vẫn còn chập chờn như ánh sao đêm.

Nói đến đây tôi lại nhớ một đoạn trong bài thơ “Hoa Biển” của nhà thơ Vũ Thất đã nói lên tâm trạng, niềm khắc khoải, chợt đến rồi chợt đi như cái thú đau thương của người thủy thủ già bên ly cà phê đắng:

Áo trắng anh mang cho trọn kiếp
Còn em một buổi để rồi thôi.
Rồi thôi hồ hải dài năm tháng
Chiến hạm về đâu chẳng đổi đường.


California ngày 3 tháng 5-2012
Tam Giang Hoàng Đình Báu
(1)Tham khảo Hải Sử. Lược sử Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.