Hôm nay,  

Những Thủy Thủ Già Việt Nam

5/4/201200:00:00(View: 14900)
Đã 37 năm xa biển, xa tàu kể từ 30 tháng tư 1975. Những thủy thủ VNCH ngày xưa nay người trẻ nhất cũng đã sáu chục và người lớn tuổi nhất cũng đã trên tám mươi. Thời gian trôi qua nhanh như một dòng sông và rồi tất cả thủy thủ còn lại nầy sẽ chờ ngày ra biển khơi lần cuối. Đó là biển khơi của cuộc đời. Nhân dịp tháng tư đen, chúng ta gặp nhau để ôn lại vài điều đáng ghi nhớ về các thủy thủ Việt Nam.

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, một cuộc họp tại vịnh Hạ Long, giữa cao ủy Pháp Robert và 8 vị đại diện các đảng phái Việt Nam gồm các ông Nguyễn Văn Xuân, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí, Nguyễn Khoa Toàn, Dình Xuân Quảng, Trần Văn Hữu, và Lê Văn Hoạch, dưới sự chứng kiến của Cựu Hoàng Bảo Đại. Sau đó, ngày 8 tháng 6 năm 1949, tại điện Elysée, Paris, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol đã long trọng cùng Hoàng Đế Bảo Đại, Quốc Trưởng Việt Nam ký một văn kiện xác nhận và nói rõ việc Pháp trao trả toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam và công nhận nền độc lập của Việt Nam(1).

Căn cứ vào văn kiện nầy, các cơ chế của Quốc Gia Việt Nam được chính thức thành lập. Trong cơ chế nầy có quân đội Quốc Gia Việt Nam, trong đó có Hải Quân. Hải Quân Việt Nam được chính thức thành lập bởi dụ số 2, ban hành ngày 6 tháng 3 năm 1952. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được xây cất ngày 12 tháng 7 năm 1951. Tháng 9 năm 1952, các khóa huấn luyện Sĩ Quan và Doàn Viên được bắt đầu. Những năm đầu Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang thuộc Hải Quân Pháp. Sau hiệp định Geneve, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Pháp chuyển giao Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang cho Hải Quân Việt Nam vào tháng 7 năm 1955.

Các Sĩ Quan Hải quân khóa 1 có 6 vị ngành chỉ Huy là các ông Lê Quang Mỹ, Trần Văn Chơn, Lâm Ngươn Tánh, Chung Tấn Cang, Trần Văn Phấn, Hồ Tấn Quyền. Và 3 Sĩ Quan ngành cơ khí là các ông Đoàn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Lịch, Lương Thanh Tùng. Ngày 12 tháng 7 năm 1952, Trung Tâm Huấn Luyến Hải Quân Nha Trang bắt đầu huấn luyện khoá 1 Đoàn Viên tức các Thủy Thủ chuyên nghiệp đầu tiên gồm 150 khóa sinh, sau đó 25 khóa sinh ưu tú được lựa chọn để theo học khóa 1 Hạ Sĩ Quan(Maistrancier) tại Việt Nam và một số khoảng 12 người lần lượt qua Pháp học các lớp cao đẳng chuyên nghiệp, thời gian học tập là 8 tháng. Thời đó các thủy thủ Việt Nam đều là các chàng trai trẻ, khỏe, đẹp. Tùy khả năng và kiến thức, mỗi người được lựa chọn vào một nghề riêng và phải có trình độ tiếng Pháp khá nghĩa là phải biết nói và viết được tiếng Pháp, tương đương với lóp đệ tứ thời bấy giờ vì chương trình giảng dạy đều bằng Pháp ngữ và các giảng viên và huấn luyện viên đều là người Pháp.

Qua những oan khiên chồng chất, những nổi đau quằn quại của cuộc chiến Việt Nam và cuộc sống nhiều thách thức trên xứ người. Những thủy thủ già thỉnh thoảng tìm gặp nhau trên các quán cà phê vỉa hè hay một nơi nào đó quen thuộc trong các khu người Việt sinh sống trên đất khách quê người. Các chàng trai oai hùng ngày nào với màu áo xanh nước biển ngang dọc trên các Duyên Đoàn, Giang Đoàn hay các thủy thủ với áo trắng tung bay trên các chiến hạm ra khơi nay tóc đã ngã màu bạc trắng như bọt biển. Bên ly cà phê nóng, họ thường nhắc đến những câu chuyện xưa trong các chuyến hải hành trên sông, trên biển. Họ cũng say sưa kể lại cho nhau nghe các hải cảng khắp các đại dương và các người tình xa lạ. Đôi lúc họ lại nhắc đến tên một vài người bạn đã gục ngã trong các trận đánh kinh hồn giữa ta và địch ở các địa danh như Tuyên Nhơn, Hồng Ngự, Ba Rài, Cổ cò, U Minh, Hàm Luông, Ba Động, Vũng Rô, Hoàng Sa…Họ là các thủy thủ, dày dạn gió sương, mê cuộc sống hải hồ, nhanh nhẹn, trẻ trung đủ các cấp bậc và ngành nghề như Bí Thư, Kế Toán, Giám Lộ, Trọng Pháo, Vận Chuyển, Cơ Khí, Phòng Tai, Điện Khí, Điện Tử, Thám xuất, Vô Tuyến, Quản Kho, Y Tá, Tiếp Vụ, Hỏa Đầu Vụ. Những lớp thủy thủ đầu tiên sau nầy là những cán bộ nòng cốt, là những viên gạch chắc chắn, bền vững cho toàn bộ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

thuy_thu_gia

Ảnh do Lưu Thanh Vương chụp. Hàng đầu từ trái sang phải: Lương Thanh Vương, Bùi Văn Chuốt, Nguyễn Ban, Nguyễn Triệu Khâm, Lê Huệ Nhi(Úc), Đặng Văn Nhi.Hàng nhì (ngồi) từ trái sang phải:Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Đình Đông, Hoàng Thọ Thu, Đào Ngọc Thanh, Trần Văn Khê, Nguyễn Hào Cường, Lý Thành Quy, Cao Hữu Vinh, Hồ Tấn Thuần.Hàng ba từ trái sang phải: Phạm Trãi, Ngô Văn Điều, Lê Thành Võ, Tô Văn Phương, Trần Hữu Khánh, Trần Hữu Thu, Huỳnh Văn Treo, Vũ Đình Thọ, Dương Bạch Quang, Đỗ Công Thành, Trần Hữu Phụng, Hoàng Đình Báu, La Xuân Kiều, Nguyễn Phú Lợi, Mã Thành Tâm, Huỳnh Kim Gia, Trần Quang Tài, Trần Đình Liệu, Nguyễn Ngọc Bạch, Châu Ngọc Tuấn, Nguyễn Hữu Xuân.
Như vậy Hải Quân là một quân chủng với nhiều ngành nghề chuyên nghiệp. Năm 1952 là năm đầu tiên trường Sĩ Quan Hải Quân cũng như trường Đoàn Viên Hải Quân được thành lập và ra đời. Kể từ đó đến nay đã tròn 60 năm. Để đánh dấu một đoạn đường dài, một số thủy thủ già Việt Nam muốn rủ nhau ăn một bữa cơm thân mật ở nhà hàng California tại miền Nam Cali Chủ Nhật ngày 15 tháng 4 năm 2012. Đứng ra mời gọi có các anh Cao Hữu Vinh, Trần Quang Tài, Trần Hữu Phụng …

Hiện diện trong bữa cơm hôm đó có 6 vị thâm niên thuộc khóa 1 Đoàn Viên như ông Trần Văn Khê, Cao Hữu Vinh, Nguyễn Hào Cường, Hoàng Thọ Thu, Đào Ngọc Thanh và Lý Thành Quy và nhiều vị của các lớp sau. Ngoài ra cũng có nhiều cựu Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang đến tham dự như NT Huỳnh Kim Gia, NT Nguyễn Hữu Xuân và các Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang khóa 11, khoá 12 và khoá 13. Tổng cộng gần 50 vị. Anh Cao hữu Vinh đại diện các cựu thùy thủ Hải Quân Việt Nam đầu tiên đứng lên nói lý do buổi cơm thân mật. Anh Trần QuangTài đi từng bàn rót chút rựơu vang đỏ vào ly mỗi người để tỏ tình đoàn kết, gắn bó qua bao năm tháng xa quê hương của những người lính biển. Anh Tài còn có biệt danh là Tài Béo, trước năm 1975, anh là chủ Nhà Hàng Nổ(Liamone) của Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Hải Quân đậu trên sông Sài Gòn cạnh Hải Quân Công Xưởng. Được biết anh Vinh cũng là người Hạ Sĩ Quan đầu tiên làm thuyền trưởng Giang Vận Hạm LCU ( Landing Craft Utility)HQ 533.

Sau năm 1975, các cựu chiến sĩ Hải Quân VNCH lần lượt qua Mỹ theo nhiều diện khác nhau và cũng đã gặp nhiều khó khăn ban đầu nhưng rồi những con cháu lại thành công trên nhiều mặt của xã hội mới. Không thiếu những bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ, thương gia, công chức cao cấp trong chính quyền cũng như trong quân đội Hoa Kỳ là con cháu của các vị thủy thủ già nầy. Thật đáng hãnh diện!

Bữa cơm thân mật bắt đầu lúc 10 giờ 30. Đây chỉ là một cuộc gặp mặt nhỏ các cựu thủy thủ ở hải ngoại vùng Orange County mà thôi. Tất cả nâng ly chúc sức khoẻ nhau và mong thỉnh thoảng có những buổi gặp mặt thân mật như vậy để hàn huyên tâm sự trong không khí chan hòa nắng ấm của miền Nam California.

Đối diện chúng tôi lả người thủy thủ già Trần Văn Khê tuy đã 85 nhưng vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn. Anh Nguyễn Hào Cường tuổi trên 80, rất nhệ sĩ, sẳn sàng biểu diễn kèn “harmonica” khi anh em yêu cầu. Anh Lý Thành Quy, một thủy thủ già luôn sốt sắng và nhiệt tình yểm trợ Đặc San Lướt Sóng, tờ báo của Hội Ái Hữu Hải Quân VNCH. Các anh còn lại người nào cũng còn nhanh nhẹn và yêu đời. Nhân dip họp mặt bất thường nầy tôi đã quen biết anh Lưu Thanh Vương, xưa là một thủy thủ trọng pháo, nay là một nhiếp ảnh gia nghệ thuật VN tại Hoa Kỳ 1983. Anh cũng đã xuất bản sách ảnh nghệ thuật ”My Homelands” với nhiều hình ảnh đẹp của nước Mỹ và của quê hương Việt Nam dấu yêu.

Qua sự ước lượng của các vị cựu Hải Quân có khoảng gần 70 ngàn thanh niên Việt Nam đã phục vụ dưới lá cờ của HQ Việt Nam Cộng Hòa. Mà những thủy thủ già nầy là những người tiên phong đã có những hoạt động tích cực trong thời gian ở Hải Quân. Hy vọng các thế hệ sau, con cháu của những người lính biển nầy sẽ hiểu được thêm về những điều mà các em chưa biết về cha ông mình đã làm gì trong một chiều dài cuộc chiến hơn 20 năm.

Tham dự bữa cơm thân mật của những thủy thủ già mới thấy cái thân thiết của những chàng trai hải hồ xưa. Hinh như nói chuyện với nhau một hồi thì ít nhiều ai cũng biết nhau, không Giang Đoàn thì Duyên Đoàn, không Hạm Đội thì Bộ Tư Lệnh Vùng. Càng nói chuyện càng xích gần nhau như trong một đại gia đình. Hàn huyên tâm sự trong bầu không khí ấm áp mới thấy tình chiến hữu khi tuổi về già.

Hôm nay, tất cả gần 50 người cựu thủy thủ Việt Nam ngồi ở đây chỉ mơ ước một Việt Nam sớm có thanh bình, tự do và dân chủ. Họ không bao giờ quên những nhánh sông quen, những vùng biển lạ, và cả những ánh sáng lập lòe của các ngọn hải đăng trong các chuyến hải hành khi đêm xuống và trong mưa gió bão bùng. Người thủy thủ già nay ngồi nhớ chiến hạm, nhớ dòng sông, nhớ hải đảo như những người tình ray rức nhớ nhau. Dù tuổi già chồng chất, người thủy thủ vẫn còn mang áo trắng trong trái tim như hoa biển vương đầy thân chiến hạm. Dù ở đâu, người thủy thủ già vẫn còn mộng phiêu du, khát khao ngày tháng cũ để có dịp về thăm lại quê hương, tìm lại giấc mộng ban đầu. Tuy đôi chân không còn cứng cáp như xưa nhưng ánh mắt, nụ cười tiễn đưa nhau ngày đó vẫn còn chập chờn như ánh sao đêm.

Nói đến đây tôi lại nhớ một đoạn trong bài thơ “Hoa Biển” của nhà thơ Vũ Thất đã nói lên tâm trạng, niềm khắc khoải, chợt đến rồi chợt đi như cái thú đau thương của người thủy thủ già bên ly cà phê đắng:

Áo trắng anh mang cho trọn kiếp
Còn em một buổi để rồi thôi.
Rồi thôi hồ hải dài năm tháng
Chiến hạm về đâu chẳng đổi đường.


California ngày 3 tháng 5-2012
Tam Giang Hoàng Đình Báu
(1)Tham khảo Hải Sử. Lược sử Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.