Hôm nay,  

Chín Năm Sau Vụ 9-11

11/09/201000:00:00(Xem: 10473)

Chín Năm Sau Vụ 9-11
Nguyễn Xuân Nghĩa

Vấn đề còn nguyên trong thế giới Hồi giáo...

Chín năm sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 tại Hoa Kỳ - người viết xin gọi tắt là "Vụ 9-11" - tình hình đã xoay chuyển ra sao"
Việc một số lực lượng Hồi giáo quá khích sử dụng phương pháp khủng bố để gây tiếng vang thực sự đã xảy ra trước đó khá lâu, và nhiều lần.
Khi ấy, cả Hoa Kỳ và thế giới chưa mấy quan tâm. Lại còn hiểu lầm như một biểu hiệu bất mãn của một số khuynh hướng Hồi giáo cực đoan vì một vài vấn đề cục bộ, như số phận của dân Palestine trong việc tranh chấp với dân Do Thái trên lãnh thổ của quốc gia Israel của Do Thái. Hoặc việc Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự trong một quốc gia Á Rập Hồi giáo, là Saudi Arabia. Hoặc như việc một thiểu số Hồi giáo đòi ly khai và độc lập tại Phi Luật Tân, v.v....
Việc sử dụng phương pháp khủng bố cũng đã được nhiểu tổ chức cực đoan khác áp dụng để đòi quyền tự trị như tại Bắc Ái Nhĩ Lan hay Tây Ban Nha, hoặc để gióng lên tiếng chuông cách mạng như của các nhóm Cộng sản quá khích tại Ý Đại Lợi, Nhật Bản, v.v....
Nhưng vụ 9-11 lại khác biệt không chỉ vì kích thước kinh hoàng và đối tượng bị tấn công là các cơ sở đầu não của đệ nhất siêu cường là Hoa Kỳ. Nó có sự khác biệt và mang ý nghĩa lịch sử - trước đây không hề có - lẫn mục tiêu chiến lược vì lực lượng chủ mưu, nhóm "al-Qaeda". Lực lượng này đã đánh một đòn chí tử vào Hoa Kỳ không vì thù ghét riêng dân Mỹ mà vì muốn dùng đòn khủng bố huy động thế giới Hồi giáo để thành hình một Đế quốc Hồi giáo toàn cầu, được cai trị bằng giáo luật Sharia, theo cách suy diễn độc đoán và quá khích nhất của họ.
Như tên gọi, phương pháp khủng bố có đặc tính là gây ra sự sợ hãi trong tinh thần "sát nhất nhân, vạn nhân cụ", giết một người để vạn người sợ. Mục tiêu không chỉ là giết người, mà để nhờ sự sợ hãi đó mà làm thay đổi cách suy nghĩ và hành động của người khác. Khi nói đến "cuộc chiến chống khủng bố", người ta định nghĩa sai vấn đề và đối tượng. Cũng sự lầm lẫn ấy khiến người ta chưa minh định được kẻ thù, đó là Hồi giáo - Muslim, Islam - hay "Chủ nghĩa Hồi giáo" Islamism, hay Lực lượng Hồi giáo cực đoan, thí dụ như Al-Qaeda"
Chín năm sau vụ 9-11, cuộc tranh luận ngay tại Hoa Kỳ và trên thế giới về hai biến cố vặt mà gây phản ứng mạnh (xây một nhà nguyện của đạo Hồi trong một trung tâm sinh hoạt cộng đồng gần địa điểm xảy ra vụ khủng bố tại New York và việc mục sư Terry Jones đòi làm lễ đốt kinh Quran của Hồi giáo tại Florida vào ngày tưởng niệm) cho thấy những tai hại của sự hiểu lầm.
Đã đến lúc chúng ta cùng kiểm điểm lại sự việc - và một cách khách quan nếu có thể.
Chính quyền George W. Bush hoàn toàn bị bất ngờ về vụ 9-11. Ngay sau đó, ông có hai quyết định một đúng, một sai và mâu thuẫn với nhau.
Trong bài diễn văn quan trọng nhất sau vụ thảm sát, ông dại dột dùng chữ "Thập tự chiến" - Crusade - để nói về cuộc chiến diệt trừ bọn khủng bố al-Qaeda. Ông rơi vào cái bẫy lý luận của quân khủng bố khi gợi lại hình ảnh "Thập tự chinh" của Thiên chúa giáo Âu Châu chống Hồi giáo vào thời Trung Cổ. Với nhiều người Hồi giáo, cực đoan hay ôn hòa, cuộc chiến đó có nhiều khía cạnh bất công đáng ghét và cũng là một trong nhiều động lực khiến dân Hồi giáo có ác cảm với Tây phương. Hoa Kỳ khi đó chưa là cái gì cả, nhưng sau này lại lãnh mọi trách nhiệm về chuyện xung đột của Âu Châu. Rồi trở thành biểu tượng đáng ghét cho các phần tử cực đoan.
Sau đó, Tổng thống Mỹ đã biết hố mà không nhắc lại cái khái niệm hàm chứa tinh thần xung đột.
Quyết định thứ hai, rất sáng suốt của ông, là lập tức nói với quốc dân, thế giới và các lãnh tụ Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không thù ghét đạo Hồi và người dân Mỹ không được trút nỗi hận về vụ 9-11 lên đầu Hồi giáo. Thực tế thì xã hội Mỹ xưa nay vẫn thuộc loại cởi mở nhất và dân Hồi giáo không hề bị kỳ thị hay ngược đãi vì tôn giáo hoặc xuất xứ sắc tộc của mình. Nhưng lời nhắc nhở của Tổng thống Mỹ sau biến cố bi thảm ấy là điều cần thiết.
Chuyện đáng tiếc là Chính quyền Barack Obama đã hẹp hòi trút mọi tội lên đầu người tiền nhiệm mà không nhắc đến phản ứng trấn an và ôn hoà đó của Bush. Và vì muốn xoa dịu phản ứng Hồi giáo mà ông Obama còn dại dột nhảy vào cuộc tranh luận về việc nên hay không nên lập đền Hồi giáo tại địa điểm xảy ra vụ khủng bố, và càng gây thêm mâu thuẫn trong lòng nước Mỹ về một dự án cục bộ tại một địa phương.
Ông Obama có nhiều cách giải tỏa vấn đề mà khỏi cần công khai lên tiếng, rồi cải chính, rồi tái khẳng định, khiến một dự án địa phương bốc lửa trên trang nhất của báo chí và trở thành cuộc tranh luận quốc gia. Obama lỡ một cơ hội để ngậm miệng. Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi còn sai lầm hơn khi nhảy vào cuộc chiến bằng cách nêu câu hỏi là Quốc hội phải điều tra xem những ai bỏ tiền ủng hộ việc chống lại dự án xây đền. Vì muốn chơi nổi trước kỳ bầu cử, bà làm thiên hạ nghĩ rằng có những thế lực mờ ám đang muốn tấn công dự án đó.
Chuyện bé bị xé ra to - dự án này đã được nghiên cứu và phê chuẩn từ lâu mà không thổi lên phản ứng cực đoan như sau này - vì chính lãnh đạo lại thổi lửa vào một vấn đề nhạy cảm ở địa phương. Truyền thông làm nốt phần vụ còn lại, khiến một mục sư mờ nhạt trong một nhà thờ nhó xíu là ông Terry Jones cũng thành nhân vật thời sự với sự án đốt kinh!
Hai vụ đáng tiếc này nuôi dưỡng lẫn nhau và càng gây phân hoá trong xã hội Mỹ. Và nhiều người điên lại nhân đó... bắt chước! "Chơi lấy tiếng" không chỉ là trò háo danh của Hollywood: bệnh sát nhân theo kiểu "copycat" là chuyện đã từng xảy ra.
***
Bây giờ, ta trở lại chuyện hung thủ là al-Qaeda và phản ứng của thế giới Hồi giáo.
Ngay sau vụ 9-11, Hoa Kỳ mở chiến dịch A Phú Hãn để diệt trừ lực lượng đầu não al-Qaeda nằm tại đây và để lật đổ chế độ Taliban đã dung dưỡng lực lượng này. Hai năm sau là chiến dịch Iraq để lật đổ chế độ Saddam Hussein và giai trừ nguy cơ hợp tác giữa al-Qaeda với đảng Baath của Saddam và thành phần Sunni được chế độ này ưu đãi. Thời sự hàng ngày đều loan tải tin tức và bình luận về hai chiến trường này.
Nhưng nếu nhìn lại toàn cảnh - toàn cầu - và mục tiêu cũng chiến lược của Hoa Kỳ, có lẽ ta cần thấy ra một động lực chính yếu nằm bên trong: cũng "sát nhất nhân, vạn nhân cụ".


Hoa Kỳ bày tỏ ý chí không sợ hãi, không co rút vào lãnh thổ của mình và thay đổi cách hành xử, như al-Qaeda trông đợi. Osama bin Laden đã rút kinh nghiệm của Liên Xô tại A Phú Hãn và Hoa Kỳ tại Iran và Việt Nam mà cho rằng nếu bị tấn công mạnh thì Hoa Kỳ cũng sẽ tháo chạy. Chính quyền Bush biểu dương ý chí ngược. Chín năm sau, ta nên đánh giá sự việc thành bại hay đúng sai ở khía cạnh ý chí này - như một yếu tố phụ trội.
Người viết cho là việc biểu dương ý chí ấy là cần thiết, và đúng đắn. Sau vụ 9-11, nhiều người đã từng sánh biến cố này với trận Mâu Thân 68 tại Việt Nam khiến Chính quyền Lyndon Johnson nản chí và chuẩn bị tháo chạy qua hoà đàm. May quá, Bush không là Johnson.
Nhưng việc tiến hành sau đó, trong chín năm qua, lại không được gọn gàng như vậy! Chúng ta đã và sẽ còn trở về vấn đề này khi nói về Iraq va A Phú Hãn.
Chuyện thứ hai ngoài nhu cầu biểu dương ý chí là trấn an các nước Hồi giáo.
Sau vụ 9-11, al-Qaeda chờ đợi là hàng loạt quốc gia Hồi giáo ôn hoà, thân Tây phương hoặc theo chế độ thế quyền thay vì thần quyền của tôn giáo, sẽ bị dân Hồi giáo lật đổ. Sự sụp đổ dây chuyền của các chế độ này, từ Bắc Phi, Trung Đông qua Trung Á và Đông Nam Á, là bước cần thiết để dẫn tới việc thành lập Đế quốc Hồi giáo trong giấc mơ của al-Qaeda.
Điều ấy không hề xảy ra và nói chung, hầu hết các quốc gia Hồi giáo ấy vẫn là đồng minh của Hoa Kỳ và còn ít nhiều hợp tác với Mỹ trong việc tiễu trừ khủng bố, từ Maroc, Saudi Arabia qua Egypt, Jordan, Pakistan - vâng, kể cả Pakistan- tới Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines.
Nói cách khác, mục tiêu chiến lược của al-Qaeda không thành.
Ngược lại, al-Qaeda mất hậu cứ tại A Phú Hãn, cả ngàn thủ lãnh và đặc công bị tiêu diệt, đầu não phải chạt dạt qua lẩn trốn trong vùng biên giới với Pakistan. Từ đó đến nay, al-Qaeda không còn khả năng tái diễn một vụ 9-11 thứ nhì, dù là không phải không muốn, và dù rằng đã thử nhiều lần mà không thành. Al-Qaeda vì vậy chỉ còn là cái loa tuyên truyền mà thôi.
Nhưng, và đây là khía cạnh thứ tư của việc tổng kết thành bại, al-Qaeda đầu não thì bị tê liệt, mà vẫn còn khả năng "phân thân".
Trong thế giới Hồi giáo có nhiều khác biệt về địa dư, lịch sử và chủng tộc, một số phần tử cực đoan nhất đã tung khẩu hiệu "Thánh chiến" - Jihad - nhằm lập ra phong trào toàn cầu. Các nhóm khủng bố xưng danh Thánh chiến ấy chưa lên tới trình độ phong trào và chưa có tổ chức quy mộ lẫn sự phối hợp toả rộng. Al-Qaeda đầu não đã mất cán bộ, phương tiện và hậu cứ nên hết còn khả năng hành động. Nhưng tinh thần Thánh chiến của các nhóm địa phương dẫn tới hiện tượng "al-Qaeda nội hóa".
Đó là các lực lượng xưng danh al-Qaeda tại vùng Maghreb Hồi giáo ở Bắc Phi (AQIM - Al Qaeda in the Islamic Mahgreb). al-Qaeda tại bán đảo Ả Rập (AQAP - Al Quaeda in the Arabian Peninsula) với chủ trương phát huy tinh thần al-Qaeda. Nhiều lực lượng Thánh chiến khác cũng khơi dậy tinh thần này, nhưng hoạt động độc lập hơn, như các nhóm Tehrik-i-Taliban Pakistan (TTP), Lashkar-e-Taiba (LeT) hay Harkat-ul-Jihad e-Islami (HUJI). Ở một tầng thấp hơn cũng có nhiều nhóm khủng bố tự phát đôi khi dùng phiêu hiệu al-Qaeda mà thực chất thì chẳng có liên lạc và cũng ít khả năng phá hoại, thí dụ như Tanzim Qaedat al-Jihad tại Indonesia.
Trong ngần ấy lực lượng al-Qaeda nội hóa hay địa phương, nhóm AQIM tại Bắc Phi và AQAP tại bản đảo Ả Rập là có vẻ gần gũi nhất về tổ chức và liên lạc với al-Qaeda nguyên thủy, và tung hoành khá mạnh tại Algérie, Yemen, Somalia. Nhưng nội bộ cũng có nhiều mâu thuẫn thậm chí xung đột vì khác biệt về cả mục tiêu lẫn quan điểm. Ngần ấy tổ chức, từ Bắc Phi qua Đông Nam Á, đều không còn khả năng chống Mỹ mà chỉ có thể mở ra các đợt khủng bố địa phưong, chủ yếu là giết hại chính người Hồi giáo.
Như vậy, chín năm sau vụ 9-11, có nói rằng al-Qaeda đã tiêu vong hoặc bị Mỹ phế bỏ võ công thì cũng không sai. Mà bảo rằng al-Qaeda vẫn còn tồn tại thì cũng đúng. Nhưng tồn tại mà không còn khả năng đe dọa quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ. Cùng lắm thì các lực lượng TTP hay LeT chỉ có thể tấn công Pakistan hay Ấn Độ để chi phối chiến lược Mỹ tại A Phú Hãn và Nam Á mà thôi.
Nói cách khác, chín năm sau thành tích của al-Qaeda tại Hoa Kỳ vào năm 2001, phong trào Thánh chiến vẫn còn là thời sự qua các vụ thảm sát ở nhiều nơi, nhưng không thể tái diễn thành tích cũ và nhất là không làm thay đổi quan hệ chiến lược của toàn cầu. Cuộc chiến vẫn tiếp tục, với cường độ nhỏ hơn, và chỉ làm đổ máu thường dân, đa số vẫn là người Hồi giáo.
Nhưng, thái độ của người Hồi giáo cũng là chuyện đáng nói.
***
Họ không có can đảm lên tiếng kết án hành vi bạo động mù quáng của các phần tử cực đoan nhất trong đạo Hồi. Người Hồi giáo đã giữ im lặng khi chế độ Taliban đặt bom tiêu hủy hai bức tượng cổ của Phật giáo tại Pakistan vào năm 2001. Họ không kết án những tên quá khích đã giết người hàng loạt tại Kashmir, Karachi, tại Mumbai. Họ sẵn sàng nổi giận khi có ai vì vô tình hay cố ý xúc phạm tín ngưỡng hay biểu tượng tôn giáo của họ tại Âu Châu, nhưng ngó qua chỗ khác khi có người bị quân Thánh chiến chặt đầu phơi thây trước ống kính. Một cuộc thi hoa hậu cũng có thể làm 200 người thiệt mạng tại Nigeria vì các phần tử Hồi giáo quá khích ở đây mà không thấy các giáo sĩ, trưởng lão hay thường dân Hồi giáo lên tiếng phê phán hay can ngăn.
Họ rất dũng cảm đả kích các phần tử cực đoan trong xã hội Mỹ và dùng phương tiện truyền thông tự do và dồi dào của Hoa Kỳ để tuyên dương tính hiếu hòa của đạo Hồi. Nhưng lại thiếu sự dũng cảm ấy khi nói về tội ác của những kẻ nhân danh Allah để làm đổ tể sát nhân. Một số không nhỏ trong thành phần có ảnh hưởng của Hồi giáo còn khéo khai thác mặc cảm da trắng, thực dân, đế quốc của trí thức thiên tả tại các nước Tây phương để che giấu tội ác của quân khủng bố.
Nói cho công bằng, ít ai dám lên tiếng thì cũng vì một lý do dễ thông cảm: họ có thể bị sát hại!
Nhẹ nhất thì cũng bị một người điên nào đó nhân danh Giáo luật Sharia mà tuyên án tử hình.  Vấn đề vì vậy thực ra không nằm trong xã hội Mỹ hay các quốc gia Âu Châu. Nó nằm trong thế giới Hồi giáo. Chín năm sau vụ khủng bố 9-11 mà người Hồi giáo chưa công nhận căn bệnh ấy trong ruột gan và não trạng mà chỉ công kích Hoa Kỳ thì có lẽ chính họ vẫn chưa hiểu gì. Phải chăng vì họ là nạn nhân của al-Qaeda: vì sợ hãi mà thay đổi cách sống và suy nghĩ"
Phải chi họ học được cách xử trí của người Hồi giáo tại Đông Nam Á.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.