Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chín Năm Sau Vụ 9-11

11/09/201000:00:00(Xem: 9349)

Chín Năm Sau Vụ 9-11
Nguyễn Xuân Nghĩa

Vấn đề còn nguyên trong thế giới Hồi giáo...

Chín năm sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 tại Hoa Kỳ - người viết xin gọi tắt là "Vụ 9-11" - tình hình đã xoay chuyển ra sao"
Việc một số lực lượng Hồi giáo quá khích sử dụng phương pháp khủng bố để gây tiếng vang thực sự đã xảy ra trước đó khá lâu, và nhiều lần.
Khi ấy, cả Hoa Kỳ và thế giới chưa mấy quan tâm. Lại còn hiểu lầm như một biểu hiệu bất mãn của một số khuynh hướng Hồi giáo cực đoan vì một vài vấn đề cục bộ, như số phận của dân Palestine trong việc tranh chấp với dân Do Thái trên lãnh thổ của quốc gia Israel của Do Thái. Hoặc việc Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự trong một quốc gia Á Rập Hồi giáo, là Saudi Arabia. Hoặc như việc một thiểu số Hồi giáo đòi ly khai và độc lập tại Phi Luật Tân, v.v....
Việc sử dụng phương pháp khủng bố cũng đã được nhiểu tổ chức cực đoan khác áp dụng để đòi quyền tự trị như tại Bắc Ái Nhĩ Lan hay Tây Ban Nha, hoặc để gióng lên tiếng chuông cách mạng như của các nhóm Cộng sản quá khích tại Ý Đại Lợi, Nhật Bản, v.v....
Nhưng vụ 9-11 lại khác biệt không chỉ vì kích thước kinh hoàng và đối tượng bị tấn công là các cơ sở đầu não của đệ nhất siêu cường là Hoa Kỳ. Nó có sự khác biệt và mang ý nghĩa lịch sử - trước đây không hề có - lẫn mục tiêu chiến lược vì lực lượng chủ mưu, nhóm "al-Qaeda". Lực lượng này đã đánh một đòn chí tử vào Hoa Kỳ không vì thù ghét riêng dân Mỹ mà vì muốn dùng đòn khủng bố huy động thế giới Hồi giáo để thành hình một Đế quốc Hồi giáo toàn cầu, được cai trị bằng giáo luật Sharia, theo cách suy diễn độc đoán và quá khích nhất của họ.
Như tên gọi, phương pháp khủng bố có đặc tính là gây ra sự sợ hãi trong tinh thần "sát nhất nhân, vạn nhân cụ", giết một người để vạn người sợ. Mục tiêu không chỉ là giết người, mà để nhờ sự sợ hãi đó mà làm thay đổi cách suy nghĩ và hành động của người khác. Khi nói đến "cuộc chiến chống khủng bố", người ta định nghĩa sai vấn đề và đối tượng. Cũng sự lầm lẫn ấy khiến người ta chưa minh định được kẻ thù, đó là Hồi giáo - Muslim, Islam - hay "Chủ nghĩa Hồi giáo" Islamism, hay Lực lượng Hồi giáo cực đoan, thí dụ như Al-Qaeda"
Chín năm sau vụ 9-11, cuộc tranh luận ngay tại Hoa Kỳ và trên thế giới về hai biến cố vặt mà gây phản ứng mạnh (xây một nhà nguyện của đạo Hồi trong một trung tâm sinh hoạt cộng đồng gần địa điểm xảy ra vụ khủng bố tại New York và việc mục sư Terry Jones đòi làm lễ đốt kinh Quran của Hồi giáo tại Florida vào ngày tưởng niệm) cho thấy những tai hại của sự hiểu lầm.
Đã đến lúc chúng ta cùng kiểm điểm lại sự việc - và một cách khách quan nếu có thể.
Chính quyền George W. Bush hoàn toàn bị bất ngờ về vụ 9-11. Ngay sau đó, ông có hai quyết định một đúng, một sai và mâu thuẫn với nhau.
Trong bài diễn văn quan trọng nhất sau vụ thảm sát, ông dại dột dùng chữ "Thập tự chiến" - Crusade - để nói về cuộc chiến diệt trừ bọn khủng bố al-Qaeda. Ông rơi vào cái bẫy lý luận của quân khủng bố khi gợi lại hình ảnh "Thập tự chinh" của Thiên chúa giáo Âu Châu chống Hồi giáo vào thời Trung Cổ. Với nhiều người Hồi giáo, cực đoan hay ôn hòa, cuộc chiến đó có nhiều khía cạnh bất công đáng ghét và cũng là một trong nhiều động lực khiến dân Hồi giáo có ác cảm với Tây phương. Hoa Kỳ khi đó chưa là cái gì cả, nhưng sau này lại lãnh mọi trách nhiệm về chuyện xung đột của Âu Châu. Rồi trở thành biểu tượng đáng ghét cho các phần tử cực đoan.
Sau đó, Tổng thống Mỹ đã biết hố mà không nhắc lại cái khái niệm hàm chứa tinh thần xung đột.
Quyết định thứ hai, rất sáng suốt của ông, là lập tức nói với quốc dân, thế giới và các lãnh tụ Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không thù ghét đạo Hồi và người dân Mỹ không được trút nỗi hận về vụ 9-11 lên đầu Hồi giáo. Thực tế thì xã hội Mỹ xưa nay vẫn thuộc loại cởi mở nhất và dân Hồi giáo không hề bị kỳ thị hay ngược đãi vì tôn giáo hoặc xuất xứ sắc tộc của mình. Nhưng lời nhắc nhở của Tổng thống Mỹ sau biến cố bi thảm ấy là điều cần thiết.
Chuyện đáng tiếc là Chính quyền Barack Obama đã hẹp hòi trút mọi tội lên đầu người tiền nhiệm mà không nhắc đến phản ứng trấn an và ôn hoà đó của Bush. Và vì muốn xoa dịu phản ứng Hồi giáo mà ông Obama còn dại dột nhảy vào cuộc tranh luận về việc nên hay không nên lập đền Hồi giáo tại địa điểm xảy ra vụ khủng bố, và càng gây thêm mâu thuẫn trong lòng nước Mỹ về một dự án cục bộ tại một địa phương.
Ông Obama có nhiều cách giải tỏa vấn đề mà khỏi cần công khai lên tiếng, rồi cải chính, rồi tái khẳng định, khiến một dự án địa phương bốc lửa trên trang nhất của báo chí và trở thành cuộc tranh luận quốc gia. Obama lỡ một cơ hội để ngậm miệng. Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi còn sai lầm hơn khi nhảy vào cuộc chiến bằng cách nêu câu hỏi là Quốc hội phải điều tra xem những ai bỏ tiền ủng hộ việc chống lại dự án xây đền. Vì muốn chơi nổi trước kỳ bầu cử, bà làm thiên hạ nghĩ rằng có những thế lực mờ ám đang muốn tấn công dự án đó.
Chuyện bé bị xé ra to - dự án này đã được nghiên cứu và phê chuẩn từ lâu mà không thổi lên phản ứng cực đoan như sau này - vì chính lãnh đạo lại thổi lửa vào một vấn đề nhạy cảm ở địa phương. Truyền thông làm nốt phần vụ còn lại, khiến một mục sư mờ nhạt trong một nhà thờ nhó xíu là ông Terry Jones cũng thành nhân vật thời sự với sự án đốt kinh!
Hai vụ đáng tiếc này nuôi dưỡng lẫn nhau và càng gây phân hoá trong xã hội Mỹ. Và nhiều người điên lại nhân đó... bắt chước! "Chơi lấy tiếng" không chỉ là trò háo danh của Hollywood: bệnh sát nhân theo kiểu "copycat" là chuyện đã từng xảy ra.
***
Bây giờ, ta trở lại chuyện hung thủ là al-Qaeda và phản ứng của thế giới Hồi giáo.
Ngay sau vụ 9-11, Hoa Kỳ mở chiến dịch A Phú Hãn để diệt trừ lực lượng đầu não al-Qaeda nằm tại đây và để lật đổ chế độ Taliban đã dung dưỡng lực lượng này. Hai năm sau là chiến dịch Iraq để lật đổ chế độ Saddam Hussein và giai trừ nguy cơ hợp tác giữa al-Qaeda với đảng Baath của Saddam và thành phần Sunni được chế độ này ưu đãi. Thời sự hàng ngày đều loan tải tin tức và bình luận về hai chiến trường này.
Nhưng nếu nhìn lại toàn cảnh - toàn cầu - và mục tiêu cũng chiến lược của Hoa Kỳ, có lẽ ta cần thấy ra một động lực chính yếu nằm bên trong: cũng "sát nhất nhân, vạn nhân cụ".


Hoa Kỳ bày tỏ ý chí không sợ hãi, không co rút vào lãnh thổ của mình và thay đổi cách hành xử, như al-Qaeda trông đợi. Osama bin Laden đã rút kinh nghiệm của Liên Xô tại A Phú Hãn và Hoa Kỳ tại Iran và Việt Nam mà cho rằng nếu bị tấn công mạnh thì Hoa Kỳ cũng sẽ tháo chạy. Chính quyền Bush biểu dương ý chí ngược. Chín năm sau, ta nên đánh giá sự việc thành bại hay đúng sai ở khía cạnh ý chí này - như một yếu tố phụ trội.
Người viết cho là việc biểu dương ý chí ấy là cần thiết, và đúng đắn. Sau vụ 9-11, nhiều người đã từng sánh biến cố này với trận Mâu Thân 68 tại Việt Nam khiến Chính quyền Lyndon Johnson nản chí và chuẩn bị tháo chạy qua hoà đàm. May quá, Bush không là Johnson.
Nhưng việc tiến hành sau đó, trong chín năm qua, lại không được gọn gàng như vậy! Chúng ta đã và sẽ còn trở về vấn đề này khi nói về Iraq va A Phú Hãn.
Chuyện thứ hai ngoài nhu cầu biểu dương ý chí là trấn an các nước Hồi giáo.
Sau vụ 9-11, al-Qaeda chờ đợi là hàng loạt quốc gia Hồi giáo ôn hoà, thân Tây phương hoặc theo chế độ thế quyền thay vì thần quyền của tôn giáo, sẽ bị dân Hồi giáo lật đổ. Sự sụp đổ dây chuyền của các chế độ này, từ Bắc Phi, Trung Đông qua Trung Á và Đông Nam Á, là bước cần thiết để dẫn tới việc thành lập Đế quốc Hồi giáo trong giấc mơ của al-Qaeda.
Điều ấy không hề xảy ra và nói chung, hầu hết các quốc gia Hồi giáo ấy vẫn là đồng minh của Hoa Kỳ và còn ít nhiều hợp tác với Mỹ trong việc tiễu trừ khủng bố, từ Maroc, Saudi Arabia qua Egypt, Jordan, Pakistan - vâng, kể cả Pakistan- tới Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines.
Nói cách khác, mục tiêu chiến lược của al-Qaeda không thành.
Ngược lại, al-Qaeda mất hậu cứ tại A Phú Hãn, cả ngàn thủ lãnh và đặc công bị tiêu diệt, đầu não phải chạt dạt qua lẩn trốn trong vùng biên giới với Pakistan. Từ đó đến nay, al-Qaeda không còn khả năng tái diễn một vụ 9-11 thứ nhì, dù là không phải không muốn, và dù rằng đã thử nhiều lần mà không thành. Al-Qaeda vì vậy chỉ còn là cái loa tuyên truyền mà thôi.
Nhưng, và đây là khía cạnh thứ tư của việc tổng kết thành bại, al-Qaeda đầu não thì bị tê liệt, mà vẫn còn khả năng "phân thân".
Trong thế giới Hồi giáo có nhiều khác biệt về địa dư, lịch sử và chủng tộc, một số phần tử cực đoan nhất đã tung khẩu hiệu "Thánh chiến" - Jihad - nhằm lập ra phong trào toàn cầu. Các nhóm khủng bố xưng danh Thánh chiến ấy chưa lên tới trình độ phong trào và chưa có tổ chức quy mộ lẫn sự phối hợp toả rộng. Al-Qaeda đầu não đã mất cán bộ, phương tiện và hậu cứ nên hết còn khả năng hành động. Nhưng tinh thần Thánh chiến của các nhóm địa phương dẫn tới hiện tượng "al-Qaeda nội hóa".
Đó là các lực lượng xưng danh al-Qaeda tại vùng Maghreb Hồi giáo ở Bắc Phi (AQIM - Al Qaeda in the Islamic Mahgreb). al-Qaeda tại bán đảo Ả Rập (AQAP - Al Quaeda in the Arabian Peninsula) với chủ trương phát huy tinh thần al-Qaeda. Nhiều lực lượng Thánh chiến khác cũng khơi dậy tinh thần này, nhưng hoạt động độc lập hơn, như các nhóm Tehrik-i-Taliban Pakistan (TTP), Lashkar-e-Taiba (LeT) hay Harkat-ul-Jihad e-Islami (HUJI). Ở một tầng thấp hơn cũng có nhiều nhóm khủng bố tự phát đôi khi dùng phiêu hiệu al-Qaeda mà thực chất thì chẳng có liên lạc và cũng ít khả năng phá hoại, thí dụ như Tanzim Qaedat al-Jihad tại Indonesia.
Trong ngần ấy lực lượng al-Qaeda nội hóa hay địa phương, nhóm AQIM tại Bắc Phi và AQAP tại bản đảo Ả Rập là có vẻ gần gũi nhất về tổ chức và liên lạc với al-Qaeda nguyên thủy, và tung hoành khá mạnh tại Algérie, Yemen, Somalia. Nhưng nội bộ cũng có nhiều mâu thuẫn thậm chí xung đột vì khác biệt về cả mục tiêu lẫn quan điểm. Ngần ấy tổ chức, từ Bắc Phi qua Đông Nam Á, đều không còn khả năng chống Mỹ mà chỉ có thể mở ra các đợt khủng bố địa phưong, chủ yếu là giết hại chính người Hồi giáo.
Như vậy, chín năm sau vụ 9-11, có nói rằng al-Qaeda đã tiêu vong hoặc bị Mỹ phế bỏ võ công thì cũng không sai. Mà bảo rằng al-Qaeda vẫn còn tồn tại thì cũng đúng. Nhưng tồn tại mà không còn khả năng đe dọa quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ. Cùng lắm thì các lực lượng TTP hay LeT chỉ có thể tấn công Pakistan hay Ấn Độ để chi phối chiến lược Mỹ tại A Phú Hãn và Nam Á mà thôi.
Nói cách khác, chín năm sau thành tích của al-Qaeda tại Hoa Kỳ vào năm 2001, phong trào Thánh chiến vẫn còn là thời sự qua các vụ thảm sát ở nhiều nơi, nhưng không thể tái diễn thành tích cũ và nhất là không làm thay đổi quan hệ chiến lược của toàn cầu. Cuộc chiến vẫn tiếp tục, với cường độ nhỏ hơn, và chỉ làm đổ máu thường dân, đa số vẫn là người Hồi giáo.
Nhưng, thái độ của người Hồi giáo cũng là chuyện đáng nói.
***
Họ không có can đảm lên tiếng kết án hành vi bạo động mù quáng của các phần tử cực đoan nhất trong đạo Hồi. Người Hồi giáo đã giữ im lặng khi chế độ Taliban đặt bom tiêu hủy hai bức tượng cổ của Phật giáo tại Pakistan vào năm 2001. Họ không kết án những tên quá khích đã giết người hàng loạt tại Kashmir, Karachi, tại Mumbai. Họ sẵn sàng nổi giận khi có ai vì vô tình hay cố ý xúc phạm tín ngưỡng hay biểu tượng tôn giáo của họ tại Âu Châu, nhưng ngó qua chỗ khác khi có người bị quân Thánh chiến chặt đầu phơi thây trước ống kính. Một cuộc thi hoa hậu cũng có thể làm 200 người thiệt mạng tại Nigeria vì các phần tử Hồi giáo quá khích ở đây mà không thấy các giáo sĩ, trưởng lão hay thường dân Hồi giáo lên tiếng phê phán hay can ngăn.
Họ rất dũng cảm đả kích các phần tử cực đoan trong xã hội Mỹ và dùng phương tiện truyền thông tự do và dồi dào của Hoa Kỳ để tuyên dương tính hiếu hòa của đạo Hồi. Nhưng lại thiếu sự dũng cảm ấy khi nói về tội ác của những kẻ nhân danh Allah để làm đổ tể sát nhân. Một số không nhỏ trong thành phần có ảnh hưởng của Hồi giáo còn khéo khai thác mặc cảm da trắng, thực dân, đế quốc của trí thức thiên tả tại các nước Tây phương để che giấu tội ác của quân khủng bố.
Nói cho công bằng, ít ai dám lên tiếng thì cũng vì một lý do dễ thông cảm: họ có thể bị sát hại!
Nhẹ nhất thì cũng bị một người điên nào đó nhân danh Giáo luật Sharia mà tuyên án tử hình.  Vấn đề vì vậy thực ra không nằm trong xã hội Mỹ hay các quốc gia Âu Châu. Nó nằm trong thế giới Hồi giáo. Chín năm sau vụ khủng bố 9-11 mà người Hồi giáo chưa công nhận căn bệnh ấy trong ruột gan và não trạng mà chỉ công kích Hoa Kỳ thì có lẽ chính họ vẫn chưa hiểu gì. Phải chăng vì họ là nạn nhân của al-Qaeda: vì sợ hãi mà thay đổi cách sống và suy nghĩ"
Phải chi họ học được cách xử trí của người Hồi giáo tại Đông Nam Á.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.