Hôm nay,  

Chín Năm Sau Vụ 9-11

9/11/201000:00:00(View: 10471)

Chín Năm Sau Vụ 9-11
Nguyễn Xuân Nghĩa

Vấn đề còn nguyên trong thế giới Hồi giáo...

Chín năm sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 tại Hoa Kỳ - người viết xin gọi tắt là "Vụ 9-11" - tình hình đã xoay chuyển ra sao"
Việc một số lực lượng Hồi giáo quá khích sử dụng phương pháp khủng bố để gây tiếng vang thực sự đã xảy ra trước đó khá lâu, và nhiều lần.
Khi ấy, cả Hoa Kỳ và thế giới chưa mấy quan tâm. Lại còn hiểu lầm như một biểu hiệu bất mãn của một số khuynh hướng Hồi giáo cực đoan vì một vài vấn đề cục bộ, như số phận của dân Palestine trong việc tranh chấp với dân Do Thái trên lãnh thổ của quốc gia Israel của Do Thái. Hoặc việc Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự trong một quốc gia Á Rập Hồi giáo, là Saudi Arabia. Hoặc như việc một thiểu số Hồi giáo đòi ly khai và độc lập tại Phi Luật Tân, v.v....
Việc sử dụng phương pháp khủng bố cũng đã được nhiểu tổ chức cực đoan khác áp dụng để đòi quyền tự trị như tại Bắc Ái Nhĩ Lan hay Tây Ban Nha, hoặc để gióng lên tiếng chuông cách mạng như của các nhóm Cộng sản quá khích tại Ý Đại Lợi, Nhật Bản, v.v....
Nhưng vụ 9-11 lại khác biệt không chỉ vì kích thước kinh hoàng và đối tượng bị tấn công là các cơ sở đầu não của đệ nhất siêu cường là Hoa Kỳ. Nó có sự khác biệt và mang ý nghĩa lịch sử - trước đây không hề có - lẫn mục tiêu chiến lược vì lực lượng chủ mưu, nhóm "al-Qaeda". Lực lượng này đã đánh một đòn chí tử vào Hoa Kỳ không vì thù ghét riêng dân Mỹ mà vì muốn dùng đòn khủng bố huy động thế giới Hồi giáo để thành hình một Đế quốc Hồi giáo toàn cầu, được cai trị bằng giáo luật Sharia, theo cách suy diễn độc đoán và quá khích nhất của họ.
Như tên gọi, phương pháp khủng bố có đặc tính là gây ra sự sợ hãi trong tinh thần "sát nhất nhân, vạn nhân cụ", giết một người để vạn người sợ. Mục tiêu không chỉ là giết người, mà để nhờ sự sợ hãi đó mà làm thay đổi cách suy nghĩ và hành động của người khác. Khi nói đến "cuộc chiến chống khủng bố", người ta định nghĩa sai vấn đề và đối tượng. Cũng sự lầm lẫn ấy khiến người ta chưa minh định được kẻ thù, đó là Hồi giáo - Muslim, Islam - hay "Chủ nghĩa Hồi giáo" Islamism, hay Lực lượng Hồi giáo cực đoan, thí dụ như Al-Qaeda"
Chín năm sau vụ 9-11, cuộc tranh luận ngay tại Hoa Kỳ và trên thế giới về hai biến cố vặt mà gây phản ứng mạnh (xây một nhà nguyện của đạo Hồi trong một trung tâm sinh hoạt cộng đồng gần địa điểm xảy ra vụ khủng bố tại New York và việc mục sư Terry Jones đòi làm lễ đốt kinh Quran của Hồi giáo tại Florida vào ngày tưởng niệm) cho thấy những tai hại của sự hiểu lầm.
Đã đến lúc chúng ta cùng kiểm điểm lại sự việc - và một cách khách quan nếu có thể.
Chính quyền George W. Bush hoàn toàn bị bất ngờ về vụ 9-11. Ngay sau đó, ông có hai quyết định một đúng, một sai và mâu thuẫn với nhau.
Trong bài diễn văn quan trọng nhất sau vụ thảm sát, ông dại dột dùng chữ "Thập tự chiến" - Crusade - để nói về cuộc chiến diệt trừ bọn khủng bố al-Qaeda. Ông rơi vào cái bẫy lý luận của quân khủng bố khi gợi lại hình ảnh "Thập tự chinh" của Thiên chúa giáo Âu Châu chống Hồi giáo vào thời Trung Cổ. Với nhiều người Hồi giáo, cực đoan hay ôn hòa, cuộc chiến đó có nhiều khía cạnh bất công đáng ghét và cũng là một trong nhiều động lực khiến dân Hồi giáo có ác cảm với Tây phương. Hoa Kỳ khi đó chưa là cái gì cả, nhưng sau này lại lãnh mọi trách nhiệm về chuyện xung đột của Âu Châu. Rồi trở thành biểu tượng đáng ghét cho các phần tử cực đoan.
Sau đó, Tổng thống Mỹ đã biết hố mà không nhắc lại cái khái niệm hàm chứa tinh thần xung đột.
Quyết định thứ hai, rất sáng suốt của ông, là lập tức nói với quốc dân, thế giới và các lãnh tụ Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không thù ghét đạo Hồi và người dân Mỹ không được trút nỗi hận về vụ 9-11 lên đầu Hồi giáo. Thực tế thì xã hội Mỹ xưa nay vẫn thuộc loại cởi mở nhất và dân Hồi giáo không hề bị kỳ thị hay ngược đãi vì tôn giáo hoặc xuất xứ sắc tộc của mình. Nhưng lời nhắc nhở của Tổng thống Mỹ sau biến cố bi thảm ấy là điều cần thiết.
Chuyện đáng tiếc là Chính quyền Barack Obama đã hẹp hòi trút mọi tội lên đầu người tiền nhiệm mà không nhắc đến phản ứng trấn an và ôn hoà đó của Bush. Và vì muốn xoa dịu phản ứng Hồi giáo mà ông Obama còn dại dột nhảy vào cuộc tranh luận về việc nên hay không nên lập đền Hồi giáo tại địa điểm xảy ra vụ khủng bố, và càng gây thêm mâu thuẫn trong lòng nước Mỹ về một dự án cục bộ tại một địa phương.
Ông Obama có nhiều cách giải tỏa vấn đề mà khỏi cần công khai lên tiếng, rồi cải chính, rồi tái khẳng định, khiến một dự án địa phương bốc lửa trên trang nhất của báo chí và trở thành cuộc tranh luận quốc gia. Obama lỡ một cơ hội để ngậm miệng. Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi còn sai lầm hơn khi nhảy vào cuộc chiến bằng cách nêu câu hỏi là Quốc hội phải điều tra xem những ai bỏ tiền ủng hộ việc chống lại dự án xây đền. Vì muốn chơi nổi trước kỳ bầu cử, bà làm thiên hạ nghĩ rằng có những thế lực mờ ám đang muốn tấn công dự án đó.
Chuyện bé bị xé ra to - dự án này đã được nghiên cứu và phê chuẩn từ lâu mà không thổi lên phản ứng cực đoan như sau này - vì chính lãnh đạo lại thổi lửa vào một vấn đề nhạy cảm ở địa phương. Truyền thông làm nốt phần vụ còn lại, khiến một mục sư mờ nhạt trong một nhà thờ nhó xíu là ông Terry Jones cũng thành nhân vật thời sự với sự án đốt kinh!
Hai vụ đáng tiếc này nuôi dưỡng lẫn nhau và càng gây phân hoá trong xã hội Mỹ. Và nhiều người điên lại nhân đó... bắt chước! "Chơi lấy tiếng" không chỉ là trò háo danh của Hollywood: bệnh sát nhân theo kiểu "copycat" là chuyện đã từng xảy ra.
***
Bây giờ, ta trở lại chuyện hung thủ là al-Qaeda và phản ứng của thế giới Hồi giáo.
Ngay sau vụ 9-11, Hoa Kỳ mở chiến dịch A Phú Hãn để diệt trừ lực lượng đầu não al-Qaeda nằm tại đây và để lật đổ chế độ Taliban đã dung dưỡng lực lượng này. Hai năm sau là chiến dịch Iraq để lật đổ chế độ Saddam Hussein và giai trừ nguy cơ hợp tác giữa al-Qaeda với đảng Baath của Saddam và thành phần Sunni được chế độ này ưu đãi. Thời sự hàng ngày đều loan tải tin tức và bình luận về hai chiến trường này.
Nhưng nếu nhìn lại toàn cảnh - toàn cầu - và mục tiêu cũng chiến lược của Hoa Kỳ, có lẽ ta cần thấy ra một động lực chính yếu nằm bên trong: cũng "sát nhất nhân, vạn nhân cụ".


Hoa Kỳ bày tỏ ý chí không sợ hãi, không co rút vào lãnh thổ của mình và thay đổi cách hành xử, như al-Qaeda trông đợi. Osama bin Laden đã rút kinh nghiệm của Liên Xô tại A Phú Hãn và Hoa Kỳ tại Iran và Việt Nam mà cho rằng nếu bị tấn công mạnh thì Hoa Kỳ cũng sẽ tháo chạy. Chính quyền Bush biểu dương ý chí ngược. Chín năm sau, ta nên đánh giá sự việc thành bại hay đúng sai ở khía cạnh ý chí này - như một yếu tố phụ trội.
Người viết cho là việc biểu dương ý chí ấy là cần thiết, và đúng đắn. Sau vụ 9-11, nhiều người đã từng sánh biến cố này với trận Mâu Thân 68 tại Việt Nam khiến Chính quyền Lyndon Johnson nản chí và chuẩn bị tháo chạy qua hoà đàm. May quá, Bush không là Johnson.
Nhưng việc tiến hành sau đó, trong chín năm qua, lại không được gọn gàng như vậy! Chúng ta đã và sẽ còn trở về vấn đề này khi nói về Iraq va A Phú Hãn.
Chuyện thứ hai ngoài nhu cầu biểu dương ý chí là trấn an các nước Hồi giáo.
Sau vụ 9-11, al-Qaeda chờ đợi là hàng loạt quốc gia Hồi giáo ôn hoà, thân Tây phương hoặc theo chế độ thế quyền thay vì thần quyền của tôn giáo, sẽ bị dân Hồi giáo lật đổ. Sự sụp đổ dây chuyền của các chế độ này, từ Bắc Phi, Trung Đông qua Trung Á và Đông Nam Á, là bước cần thiết để dẫn tới việc thành lập Đế quốc Hồi giáo trong giấc mơ của al-Qaeda.
Điều ấy không hề xảy ra và nói chung, hầu hết các quốc gia Hồi giáo ấy vẫn là đồng minh của Hoa Kỳ và còn ít nhiều hợp tác với Mỹ trong việc tiễu trừ khủng bố, từ Maroc, Saudi Arabia qua Egypt, Jordan, Pakistan - vâng, kể cả Pakistan- tới Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines.
Nói cách khác, mục tiêu chiến lược của al-Qaeda không thành.
Ngược lại, al-Qaeda mất hậu cứ tại A Phú Hãn, cả ngàn thủ lãnh và đặc công bị tiêu diệt, đầu não phải chạt dạt qua lẩn trốn trong vùng biên giới với Pakistan. Từ đó đến nay, al-Qaeda không còn khả năng tái diễn một vụ 9-11 thứ nhì, dù là không phải không muốn, và dù rằng đã thử nhiều lần mà không thành. Al-Qaeda vì vậy chỉ còn là cái loa tuyên truyền mà thôi.
Nhưng, và đây là khía cạnh thứ tư của việc tổng kết thành bại, al-Qaeda đầu não thì bị tê liệt, mà vẫn còn khả năng "phân thân".
Trong thế giới Hồi giáo có nhiều khác biệt về địa dư, lịch sử và chủng tộc, một số phần tử cực đoan nhất đã tung khẩu hiệu "Thánh chiến" - Jihad - nhằm lập ra phong trào toàn cầu. Các nhóm khủng bố xưng danh Thánh chiến ấy chưa lên tới trình độ phong trào và chưa có tổ chức quy mộ lẫn sự phối hợp toả rộng. Al-Qaeda đầu não đã mất cán bộ, phương tiện và hậu cứ nên hết còn khả năng hành động. Nhưng tinh thần Thánh chiến của các nhóm địa phương dẫn tới hiện tượng "al-Qaeda nội hóa".
Đó là các lực lượng xưng danh al-Qaeda tại vùng Maghreb Hồi giáo ở Bắc Phi (AQIM - Al Qaeda in the Islamic Mahgreb). al-Qaeda tại bán đảo Ả Rập (AQAP - Al Quaeda in the Arabian Peninsula) với chủ trương phát huy tinh thần al-Qaeda. Nhiều lực lượng Thánh chiến khác cũng khơi dậy tinh thần này, nhưng hoạt động độc lập hơn, như các nhóm Tehrik-i-Taliban Pakistan (TTP), Lashkar-e-Taiba (LeT) hay Harkat-ul-Jihad e-Islami (HUJI). Ở một tầng thấp hơn cũng có nhiều nhóm khủng bố tự phát đôi khi dùng phiêu hiệu al-Qaeda mà thực chất thì chẳng có liên lạc và cũng ít khả năng phá hoại, thí dụ như Tanzim Qaedat al-Jihad tại Indonesia.
Trong ngần ấy lực lượng al-Qaeda nội hóa hay địa phương, nhóm AQIM tại Bắc Phi và AQAP tại bản đảo Ả Rập là có vẻ gần gũi nhất về tổ chức và liên lạc với al-Qaeda nguyên thủy, và tung hoành khá mạnh tại Algérie, Yemen, Somalia. Nhưng nội bộ cũng có nhiều mâu thuẫn thậm chí xung đột vì khác biệt về cả mục tiêu lẫn quan điểm. Ngần ấy tổ chức, từ Bắc Phi qua Đông Nam Á, đều không còn khả năng chống Mỹ mà chỉ có thể mở ra các đợt khủng bố địa phưong, chủ yếu là giết hại chính người Hồi giáo.
Như vậy, chín năm sau vụ 9-11, có nói rằng al-Qaeda đã tiêu vong hoặc bị Mỹ phế bỏ võ công thì cũng không sai. Mà bảo rằng al-Qaeda vẫn còn tồn tại thì cũng đúng. Nhưng tồn tại mà không còn khả năng đe dọa quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ. Cùng lắm thì các lực lượng TTP hay LeT chỉ có thể tấn công Pakistan hay Ấn Độ để chi phối chiến lược Mỹ tại A Phú Hãn và Nam Á mà thôi.
Nói cách khác, chín năm sau thành tích của al-Qaeda tại Hoa Kỳ vào năm 2001, phong trào Thánh chiến vẫn còn là thời sự qua các vụ thảm sát ở nhiều nơi, nhưng không thể tái diễn thành tích cũ và nhất là không làm thay đổi quan hệ chiến lược của toàn cầu. Cuộc chiến vẫn tiếp tục, với cường độ nhỏ hơn, và chỉ làm đổ máu thường dân, đa số vẫn là người Hồi giáo.
Nhưng, thái độ của người Hồi giáo cũng là chuyện đáng nói.
***
Họ không có can đảm lên tiếng kết án hành vi bạo động mù quáng của các phần tử cực đoan nhất trong đạo Hồi. Người Hồi giáo đã giữ im lặng khi chế độ Taliban đặt bom tiêu hủy hai bức tượng cổ của Phật giáo tại Pakistan vào năm 2001. Họ không kết án những tên quá khích đã giết người hàng loạt tại Kashmir, Karachi, tại Mumbai. Họ sẵn sàng nổi giận khi có ai vì vô tình hay cố ý xúc phạm tín ngưỡng hay biểu tượng tôn giáo của họ tại Âu Châu, nhưng ngó qua chỗ khác khi có người bị quân Thánh chiến chặt đầu phơi thây trước ống kính. Một cuộc thi hoa hậu cũng có thể làm 200 người thiệt mạng tại Nigeria vì các phần tử Hồi giáo quá khích ở đây mà không thấy các giáo sĩ, trưởng lão hay thường dân Hồi giáo lên tiếng phê phán hay can ngăn.
Họ rất dũng cảm đả kích các phần tử cực đoan trong xã hội Mỹ và dùng phương tiện truyền thông tự do và dồi dào của Hoa Kỳ để tuyên dương tính hiếu hòa của đạo Hồi. Nhưng lại thiếu sự dũng cảm ấy khi nói về tội ác của những kẻ nhân danh Allah để làm đổ tể sát nhân. Một số không nhỏ trong thành phần có ảnh hưởng của Hồi giáo còn khéo khai thác mặc cảm da trắng, thực dân, đế quốc của trí thức thiên tả tại các nước Tây phương để che giấu tội ác của quân khủng bố.
Nói cho công bằng, ít ai dám lên tiếng thì cũng vì một lý do dễ thông cảm: họ có thể bị sát hại!
Nhẹ nhất thì cũng bị một người điên nào đó nhân danh Giáo luật Sharia mà tuyên án tử hình.  Vấn đề vì vậy thực ra không nằm trong xã hội Mỹ hay các quốc gia Âu Châu. Nó nằm trong thế giới Hồi giáo. Chín năm sau vụ khủng bố 9-11 mà người Hồi giáo chưa công nhận căn bệnh ấy trong ruột gan và não trạng mà chỉ công kích Hoa Kỳ thì có lẽ chính họ vẫn chưa hiểu gì. Phải chăng vì họ là nạn nhân của al-Qaeda: vì sợ hãi mà thay đổi cách sống và suy nghĩ"
Phải chi họ học được cách xử trí của người Hồi giáo tại Đông Nam Á.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.