Hôm nay,  

Bóng hình năm cũ

15/02/202410:26:00(Xem: 2053)
Truyện

vinhlong

... Hello darkness, my old friend

I've come to talk with you again

Because a vision softly creeping

Left its seeds while I was sleeping

And the vision that was planted in my brain

Still remains

Within the sound of silence

In restless dreams I walked alone... (1)

 

Tiếng hát khàn đục, nghẹn ngào của người ca sĩ da đen phát ra từ chiếc loa nhỏ, cũ kỷ tình cờ ở một góc đường thành phố New York. Họ là những ca sĩ đường phố, hát lang thang đây đó để bán những đĩa hát của mình. Đôi mắt nhắm nghiền, những vết nhăn nhún trên khuôn mặt đen sạm nắng bụi thời gian, tiếng hát chừng như đang dỗ dành, kể lể với thân phận của chính mình. Tiếng hát như níu chân trái tim của bạn lại. Tiếng hát như mời mọc tâm hồn bạn với khoảnh khắc một đời người. Vậy mà bao nhiêu người vẫn thản nhiên đi qua, dửng dưng như trong không gian chung quanh không hề có một âm vang vọng lại. Tiếng hát chấm dứt như một tiếng thở dài không dứt.Tôi đã nghe rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát bài nầy, nhưng đây là lần tôi xúc động vô cùng với giọng ca của người ca sĩ đường phố. Tiếng hát đẩy tôi thật xa, thật xa trong vùng tận cùng của ký ức, trong một khung trời của dĩ vãng ngỡ chôn sâu... 
    Khoảng hơn mười giờ, chuyến xe dừng lại bến phà Mỹ Thuận. Tôi ló đầu ra cửa, điệu này chắc phải cả tiếng đồng hồ mới qua được phà. Hai mươi tám Tết, không khí thật ồn ào, nhộn nhịp. Tiếng còi xe, tiếng rao hàng, tiếng mời gọi nức vang dọc theo dãy hàng quán bên đường. Trong cảnh rộn ràng của những ngày cận Tết, không khí chiến tranh cũng không lắng dịu chút nào. Những đoàn xe nhà binh che đậy bít bùng, từng đoàn đang chạy vội vã, vang dậy tiếng còi inh ỏi, thúc dục. Cảnh sát, lính địa phương từng tốp xuôi ngược theo dòng người dọc hai bên đường, mắt gườm gườm, quan sát sẵn sang cho mọi bất trắc. Gói mười ổ bánh mì Sài-gòn, được tôi treo cẩn thận trước khi quảy chiếc túi vải xuống xe. Đây là món không thể thiếu mỗi lần tôi về thăm nhà.Bánh mì ở đâu cũng có, vậy mà phải là bánh mì Sài Gòn mới được.Quà cho nhà, cho bà con chòm xóm. Mẹ tôi nói, bánh mì Sài Gòn ăn không cũng ngon. Tôi thì không thấy như vậy. Bánh mì Sài Gòn hay bánh mì Vĩnh Long, Cái Bè tôi ăn cũng thấy như nhau! Mẹ và bà con quê nội nói, chắc tại tôi ăn bánh mì Sài Gòn mấy năm nay nên quen miệng, không thấy khác. Chứ thật sự, bánh mì Sài Gòn rất đặc biệt, có mùi thơm và độ giòn rất là Sài Gòn, chỉ có bánh mì Sài Gòn mới có. Tôi tin mẹ và bà con quê nội nói đúng. Ly cà-phê và cái bánh tiêu hồi sáng sớm vẫn còn no bụng. Thôi thì đợi trưa tới Vĩnh Long ăn luôn trước khi xuống đò về nhà nội... Những chuyến xe về quê cuối năm người đông như nấm, đi bộ phải lách phải luồn mới không đụng vai chạm tay. Dưa hấu màu xanh thẳm, bóng lưỡng chất đống dọc hai bên đường.Rồi thì mứt, đủ loại đủ màu, bày cùng khắp trong bọc, trong những hộp bao giấy kiếng thật đẹp và bắt mắt. Tiếng mời mọc, nỳ nèo giá cả, tiếng cười nói rộn ràng một không khí Tết gần kề. Đó là chưa kể mùi hủ tiếu, cháo lòng, mùi thịt nướng thơm lừng... quyện kín cả vùng. Tôi thương vô cùng không khí cuộc sống hai bên bờ phà Mỹ Thuận, bận về cũng như bận đi. Có cái gì đó bịn rịn quê nhà khi sang phà, trước khi vào Sài Gòn. Có cái gì rộn ràng cho nửa đoạn đường gần quê nhà hơn, khi bước chân lên chuyến phà qua bên kia bờ chờ đợi. Tôi sẽ thấy hình dáng của mẹ gần hơn.
    Tiếng còi xe vang dậy, kềm theo từng đoàn người tất bật ngược dòng. Chắc phà vừa cập bến. Tôi thấy hơi khát, định ghé vào mua một bọc nước mía cầm theo. Chợt đâu văng vẳng trong tiếng ồn ào, náo nhiệt của bến phà vang lên tiếng đàn với nhịp điệu quen tai. Tôi khựng người, lắng nghe. Tiếng đàn gần, gần dần và quyện trong tiếng hát giọng nữ ngọt buồn:
 
“... Mưa ơi! Mưa ơi!
Mưa gieo sầu nhân thế
Mưa nhớ ai,
biết người thương có còn nhớ hay quên
Riêng ta vẫn u hoài
Đêm đêm tiếp đêm nhớ mong người
Đã cách xa...”  (2)
 
Người con gái dáng gầy gò, chiếc áo màu xanh đậm bạc màu, một tay cầm chiếc nón lá rách vành, tay kia cầm chiếc gậy theo sau là người đàn ông ôm đàn thùng, đeo kiếng sậm đen. Tiếng hát ngân dài dịu vợi, bơ vơ  trong tiếng ồn ào, nhộn nhịp bao cuộc đời xuôi ngược chung quanh. Vài người khách bộ hành dừng lại nhìn cô gái, rồi bỏ vội vào chiếc nón lá rách vành những tờ giấy bạc vô tình. Âm vang cuối cùng của bài hát đã dứt, khoảng lặng yên như xô đẩy dòng người dòng đời náo nhiệt hơn lên. Tiếng từng phím đàn lại rão lên một bài hát khác. Người con gái ngẩn mặt lên, dưới mái tóc bồng bềnh biếng chảy là đôi mắt, đôi mắt u hoài như chẳng nhìn ai, sao xé thịt da người. Đôi môi tuổi xuân thì, cũng phơn phớt hồng cất giọng, bất chấp gian truân hằn sâu trên khóe mắt: 
 
“Mưa rừng ơi, mưa rừng!
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời
Mưa sầu vì lòng người
Duyên kiếp không lâu...”  (3)
 
Tiếng hát thơ ngây sao vọng nỗi u hoài trong không gian rộn rã vây quanh. Tiếng hát như bóp chặc mỗi nhịp đập tim tôi, giữa mùa gió trở. Tiếng còi xe bất chợt kéo tôi về thực tại. Chuyến xe tôi đang chuyển bánh về phía bến phà. Tôi móc vội những tờ giấy bạc trong túi, những tờ giấy bạc dành dụm suốt năm dạy kèm trong đáy xách vải. Đi nhanh về phía tiếng hát, tôi bỏ tất cả nắm giấy bạc và cả tấm lòng mình vào chiếc nón lá rách vành. Tiếng hát bất thần im bặt giữa nhịp đàn. Dưới đôi chân mày đen rậm, ánh mắt ngưởi con gái thoáng kinh ngạc, chút bừng vui.  Tôi quay đi nhanh, chạy theo chuyến xe hướng về phía trước. Trong bước chân vội như trốn, tôi chợt ngoái đầu lại tự dưng, để bắt gặp lại đôi mắt thoáng hiện nụ cười cuối khóe nhẹ tênh... Chuyến phà rời bến, thổi hơi nước trong khứu giác tôi rộng mở. Tôi muốn la to lên niềm hạnh phúc vỡ bờ. Tôi cũng quên mất, trong người tôi trống rỗng, không còn gì cả. Không tiền để ăn trưa, không tiền cho chuyến đò về nhà nội. Mà cần gì, trong tôi đang căng đầy hạnh phúc; căng đầy mọi nỗi niềm, đầy ấp ánh mắt, bóng hình của người con gái hát dạo ở lại bên kia bến phà Mỹ Thuận.   
 
***
 
Rất nhiều năm, nhiều năm sau nầy, trên chuyến xe về thăm lại quê nhà, tôi nói với người lái xe dừng lại dưới chân cầu Mỹ Thuận. Thời gian không ngừng lại chờ ai. Cuộc sống không ngừng trôi trong mọi kiếp người hữu hạn. Tóc tôi đã bạc màu năm tháng. Đất nước, quê hương tôi vẫn đang thay đổi "chóng mặt" từng ngày. Trước mắt tôi là hiện tại. Những gì tôi nhớ, tôi muốn tìm là quá khứ, là những vùng ký ức chìm sâu. Dọc hai bên đường là những công trình đang xây cất, là những tấm bảng quảng cáo đầy màu sắc của hôm nay. Thỉnh thoảng có vài tán dù bày bán những chai nước uống, bánh trái lẻ loi. Chân cầu Mỹ Thuận đã hiện ra phía trước. Chiếc xe chậm lại, người tài xế trẻ quay qua tôi:
    – Đây là điểm gần nhất em có thể dừng xe cho chú.
    Đó là một trạm xăng Petrolimex. Bên hông trạm xăng, phía ngoài là một quán ăn nhỏ. Chiếc xe dừng và tắt máy trước cửa quán. Tất cả lục đục xuống xe, bà xã tôi nói:
    – Mọi người vào quán uống nước, để ông ấy đi chụp vài bức ảnh.
    Quá quen tính bốc đồng, cũng như những cảm xúc riêng tư, bà xã rất tôn trọng giây phút “một mình” của tôi. Đi dọc theo lối cỏ ven đường, tôi đã nhìn thấy những sợi cáp treo của cầu Mỹ Thuận. Đã thấy xa xa mặt nước sông Tiền nâu sậm và mùi hơi nước thoảng trong gió lùa. Cảnh vật không còn chút gì để nhận ra, nhưng bầu trời vẫn xanh với từng cụm mây trắng lơ lững như ngày nào. Và hương vị, cái hương vị của quê tôi cũng không hề thay đổi. Mùi hanh hanh của nắng, mùi ngây ngây của hương đồng cỏ nội, mùi hơi nước nồng tênh phả vào từ phía ven sông. Mùi vị mà không bất cứ vùng đất nước nào tôi đã sống, đã đi qua có được. Mùi vị của quê hương tôi! Mỗi bước chân tôi như đang đi ngược về quá khứ. Ánh mắt tôi như chợt nhạt nhòa những hình bóng của ngày xưa. Những chuyến phà ngang, những dòng đời xuôi ngược và... một ánh mắt. Ánh mắt của tiếng hát một đời tôi cứ hệ lụy, cưu mang. Họ là ai? Người con gái hát dạo ngày đó là ai? Tên gì? Hay cũng chỉ là một cái tên trên đường đời muôn vạn nẽo. Về đâu, hởi người con gái một lần tôi gặp giữa trời miên viễn? Họ còn hay mất, có ai nghĩ đến, đoái hoài? Người con gái ngày nào có còn nhớ đến tấm lòng, tôi đã bỏ lại trong chiếc nón lá rách vành một chuyến qua sông? Buổi chiều rơi nhè nhẹ, như vẳng lại đâu đây tiếng hát mơ hồ, hư thực.Tiếng hát của ai? Tiếng hát tôi tâm tưởng hay tiếng người con gái hát dạo ngày xưa của bến phà Mỹ Thuận: 

 

“... Mưa rừng ơi! Mưa rừng

Tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa

Mỗi khi mưa rừng về muộn màng

Bóng chiều về dần tàn

Lòng thương nhớ nào nguôi...”  (3)

 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1)  The Sound of Silence – Paul Simon

(2)  Lạnh Trọn Đêm Mưa – Huỳnh Anh

(3)  Mưa Rừng – Huỳnh Anh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.