Hôm nay,  

Về Florida Thăm Nhà Cũ, Trường Xưa

02/01/202609:38:00(Xem: 700)

 

Dịp nghỉ lễ cuối năm 2025, vợ chồng tôi trở lại thành phố St. Petersburg sau 37 năm, tìm về căn nhà cũ và trường xưa của bà xã tôi.

 

Đầu năm 1987, nhà tôi rời trại tị nạn Galang, Indonesia đi Mỹ định cư sau hành trình vượt biển nhiều lần và đã từng bị công an bắt giam cả tháng.

 

Gia đình vượt biển trong năm 1985, ba của Hương đi trước, đem theo hai người con lớn. Má đi sau mấy tháng với hai người con còn lại và may mắn cả nhà đã đến các đảo của Indonesia, trước khi được chuyển vào trại chuyển tiếp Galang dưới sự điều hành của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc. Ở đây, người vượt biển được gặp nhân viên di trú của Hoa Kỳ, Úc, Canada, Hà Lan, Đức, Nhật để phỏng vấn định cư. Mỗi lần bị phái đoàn từ chối nhận là một nỗi buồn, nhưng ai cũng kiên nhẫn chờ đợi cho lần phỏng vấn kế tiếp.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H01_NhaCu

Tác giả và bà xã chụp ảnh trước ngôi nhà nơi gia đình vợ từng sống 37 năm trước đây (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Vào cuối thập niên 1980, thời gian ở trại của một người tị nạn ít nhất cũng là một năm, trung bình là hai năm và có những người đã phải ở lâu hơn, vì trục trặc hồ sơ hay vì có bệnh lao.

 

Gia đình bà xã được Hoa Kỳ nhận cho định cư. Chuẩn bị lên đường đi Mỹ, nhưng đã gặp những trở ngại vào giờ chót.

 

Nếu mọi chuyện như dự định, gia đình đã lên đường định cư từ tháng 9/1986, nhưng người bảo trợ ở Denver, Colorado vào phút chót đã không tiếp tục hoàn tất hồ sơ để đón qua Mỹ. Lần thứ hai, cả nhà đã ra cầu tàu, sắp xuống tàu rời Galang thì cô em gái bị mạt cưa làm đỏ mắt nên lại không được lên đường, vì chính phủ Singapore không cho người bị đỏ mắt quá cảnh bên đó. Thế là phải trở về trại, nhận lại nồi niêu, chén bát vừa cho hết hàng xóm, tiếp tục cuộc sống trong trại với nhiều lo âu không biết ngày nào mới có thể rời đảo.

 

Lần thứ ba, đầu tháng 1/1987, gia đình rời Galang qua Singapore, có tôi đón tại cầu tàu. Chuyến tàu đó, ngoài gia đình Hương còn có linh mục Tống Kiến Hùng, gia đình ông Lê Bé là những người tôi quen trong trại đi định cư ở California. Vào trại chuyển tiếp Hawkins Road ở vài ngày chờ chuyến bay đi Mỹ. Như với nhiều thuyền nhân từ Galang đã qua đây, tôi đưa Hương đi chơi Singapore một ngày, rồi ra phi trường Changi tiễn gia đình đi Mỹ định cư. Còn tôi đi Bangkok nhận công việc mới, cũng làm cho chương trình giáo dục tị nạn.

Gia đình được cơ quan Bác ái Công giáo (USCC) bảo trợ về thành phố St. Petersburg, Florida định cư. Có sơ Yến giúp đỡ ổn định chỗ ở, làm các thủ tục giấy tờ, ghi danh học tiếng Anh ESL cho ba mẹ, nhập học các trường cho bốn chị em.

 

USCC thuê cho gia đình một căn nhà hai phòng ngủ, một phòng tắm ở số 731 17th Street N., St. Petersburg, bên cạnh có gia đình ông Liêm Nguyễn đến sống đã vài năm. Cũng ở thành phố này còn có gia đình bác Mai Văn Hòa, từ Galang đến định cư vài tháng trước.

 

Nhà tôi và em trai kế vào trường Northeast High School. Hai em nhỏ học tiểu học và cấp hai. Đi học nếu không có người đưa đón thì đi xe buýt vàng của trường.

 

Sau vài tháng quen dần với cuộc sống mới, ba đi làm phụ bếp ở nhà hàng, cuối tuần Hương theo má đi dọn phòng trong khách sạn.

 

Năm 1988, tôi trở lại Hoa Kỳ, về thăm gia đình Hương và cũng tìm việc ở khu vực Tampa-St. Petersburg, có gặp bà Thanh Đồng Ingall là người sống ở đây lâu năm hướng dẫn tìm việc làm trong lãnh vực xã hội và giáo dục.

 

Nhưng rồi vùng Vịnh San Francisco mời gọi tôi trở về, làm việc với Hội Ngư phủ ở Oakland, giám đốc là anh Phạm Minh Chiếu. Tôi phụ trách giúp tìm việc làm cho những người mới đến định cư.

 

Hè năm 1988, gia đình Hương từ giã vùng Vịnh Tampa, Florida dọn về vùng Vịnh San Francisco, California. Chúng tôi kết hôn với nhau năm 1992.

 

Ba mươi bảy năm sau, chúng tôi trở lại St. Petersburg. Căn nhà xưa đã được sửa lại, hai căn, trước đây gia đình ông Liêm và gia đình Hương ở, đã nhập với nhau thành một. Theo sàn giao dịch bất động sản Zillow, giá căn nhà bây giờ là 340.000 đô la.

 

Năm 1987, ông Liêm đã mua nhà riêng, sau mấy năm định cư. Căn nhà ba phòng ngủ hai phòng tắm, cách nhà cũ chừng dăm phút lái xe, giá 50.000 đô la.

 

Ngôi nhà cũ bây giờ có hàng rào gỗ chung quanh, không còn nhiều cây cao xum xuê trước sân. Kín cổng và không thấy ai ngoài sân. Gặp người láng giềng ở đối diện, chúng tôi hỏi thăm, ông nói chắc chủ nhà đi chơi. Ông kể là căn nhà kế cận, bây giờ là một Art Studio mới bán với giá 700.000 đô la vào năm ngoái. Trước đó dăm năm đó là một căn nhà hư hỏng bán chưa đến 50.000 đô.

 

Sau khi nhìn lại nhà cũ, chúng tôi đến trường Northeast High School. Vì là dịp lễ nghỉ nên trường đóng cửa. Từ ngoài nhìn vào, nhà tôi thấy sân trường vẫn quen thuộc, là nơi học sinh ngồi ăn trưa.

 

Những thầy cô dạy Anh ngữ và toán còn lưu lại nhiều kỷ niệm và lòng biết ơn trong tim bà xã vì lúc bấy giờ tiếng Anh còn yếu nhưng được thầy cô hết lòng giúp đỡ, khuyến khích học tập, giờ toán hay được gọi lên bảng giải bài mẫu cho bạn học làm theo. Ở trường khi đó có vài chục học sinh Việt, nhiều em qua Mỹ đã lâu nên rất thời thượng với tóc punk, quần ống túm mà rộng trên đùi.

 

Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H02_ChoNongSan
H02: Chợ nông sản với nhiều cây trái Việt ở Clearwater, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Những ngày ở đây chúng tôi đi chợ trời cuối tuần, có hàng quán bán cháo lòng, bún mắm, nước mía. Cuối tháng 12 dương lịch mà có nhiều trái cây quê nhà như na, sapôchê, mít, vú sữa, ô ma, nhãn, xoài, ổi, cóc, khế; các loại rau muống, rau mồng tơi, rau dền, mướp hương. Rau tương đối rẻ còn trái cây nếu so với California thì không. Sapôchê, nhãn 5 đô một cân Anh, na nhỏ 8 đô, na lớn 15 đô một cân, vú sữa hai trái 8 đô 50 xu. Cây me non, cao chừng một mét có người mua với giá 40 đô.

 

Nhà hàng có phở Zen, khá ngon. Cơm tấm bì, bún thịt nướng ở quán Kiên Giang rất ngon và đông khách lúc hai, ba giờ chiều. Không như bên California, vào quán Việt gọi thức ăn, trong vòng 5 phút là có ngay, ở đây có thể vì thiếu người phục vụ nên khách phải chờ cũng khá lâu, hay nếp sống ở Florida chậm rãi hơn nên mọi thứ không nhanh, chớp nhoáng như ở California?

 

Trong vùng Vịnh Tampa nay có nhiều xứ đạo Công giáo và chùa Phật giáo. Các cơ sở tôn giáo đều tọa lạc trên những khu đất rộng. Chùa Phật Pháp ở St. Petersburg theo phái Theravada, trước chùa có nhiều tượng Phật và những hàng tre xanh mang lại khung cảnh rất Việt Nam.

 

Chủ nhật dự lễ ở nhà thờ Thánh Giuse của riêng người Công giáo gốc Việt ở Tampa. Trong bài giảng, cha chính xứ Đinh Xuân Chiến, dòng Ngôi Lời SVD, nhắc đến nhiều đóng góp cho giáo xứ của những gia đình làm đẹp móng tay, mái tóc.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H03_NhaThoCacThanhTuDao
Nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở St. Petersburg, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Khi tôi sống ở đây đôi tháng vào năm 1988, lúc đó có cha Tước phục vụ cộng đồng Công giáo trong một giáo xứ Mỹ của Giáo phận St. Petersburg. Nay thành phố này đã có nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam với cha chính xứ Nguyễn Vũ Việt từ nhiều năm qua. Giáo xứ không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo cho 500 gia đình mà còn là cơ sở giáo dục, có chương trình học tiếng Việt và giúp học sinh ôn bài, làm bài tập sau giờ học.

 

Ghé thăm mới được biết cha chính xứ là cháu của linh mục Nguyễn Văn Lý, một người tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền đã bị Hà Nội giam tù nhiều năm. Không hẹn trước nhưng chúng tôi đã được cha đón tiếp, cho biết về các sinh hoạt của cộng đoàn giáo dân ở St. Petersburg, như đại hội tôn kính các Thánh Tử đạo cuối tháng 11 vừa qua.

 

Khác với California là nơi không có giáo xứ Việt, ở Florida linh mục Việt có thể lập giáo xứ riêng và tự lo điều hành mọi việc với sự đóng góp của giáo dân. Vì thế ở đây đã có các linh mục khai sinh ra giáo xứ và làm chánh xứ cả chục năm hay lâu hơn.

 

Trước khi ra về, cha Việt tặng chúng tôi mấy trái khế, cây nhà lá vườn của người trong giáo xứ. Khế ngọt, có lẽ cũng là loại trái được dân địa phương ưa chuộng vì trong siêu thị Publix có bán, giá 3-4 đô một trái.

 

Hỏi chúng tôi về hưu có tính trở lại đây sống vì cha cũng biết bán nhà ở California về St. Petersburg thì dành một nửa mua nhà, nửa còn lại cộng với tiền an sinh xã hội là sống hưu thoải mái với khí hậu ấm áp quanh năm như ở Việt Nam và cây trái, rau cỏ quê nhà cũng không thiếu.

 

Một lần nữa giã từ St. Petersburg.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H04_BienSiesta_Sarasota
Bãi biển Siesta ở thành phố Sarasota, Florida đông du khách trong ngày cuối năm dương lịch (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Mấy ngày qua, ghé thăm nhà xưa, trường cũ, gặp gỡ nhiều người cho chúng tôi hiểu biết hơn về vùng Vịnh Tampa. Nhất là có dịp ra biển ở Clearwater, ở Sarasota mà mê cát trắng mịn như bột và nước xanh màu ngọc bích nên sẽ trở lại trong một ngày không xa, làm khách du lịch vui cùng sóng nước biển xanh. Không như đã đi xa 37 năm mới trở về trong chuyến đi vừa qua.

 
Bùi Văn Phú

Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.