Hôm nay,  

Hy Lạp, Đất Nước Huyền Thoại

09/01/202600:00:00(Xem: 255)

Hy Lạp
Di Tích Đền Parthenon
                                                                  
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.

Xa xa phía chân trời, ánh dương tỏa nắng ấm từ phía biển Aegean xanh màu ngọc biếc, những tia nắng đầu tiên lướt qua bầu không khí rộn ràng một ngày mới cho người dân Athens. Ánh sáng dịu dàng, óng ả, chiếu lên từng vết nứt, mảng tường, từng đường chạm khắc mờ còn sót lại, khiến khu di tích như bắt đầu hồi sinh từ một nền văn minh chưa hề tắt.

Trong khoảnh khắc ấy, trên hoang tàn, nhóm 8 người chúng tôi vẫn có thể hình dung ra Athens huy hoàng của 3500 năm trước: những cung điện bằng đá sáng rực trong nắng, những bậc đá hoa cương dẫn lên đền thờ nữ thần Athena, đoàn người mặc áo choàng trắng bước chậm rãi qua quảng trường, và khói hương nghi ngút trong không gian lễ hiến tế linh thiêng.

Ngày nay, dù chỉ còn lại những cột đá đứng lặng im, nhưng dưới ánh ban mai, chúng giống như những người lính già vẫn kiêu hãnh canh giữ vinh quang xưa cũ. Acropolis không chỉ là một di tích, còn là nơi quá khứ và hiện tại giao nhau trong một khoảnh khắc âm trầm mà hùng tráng.

Ngày còn thơ, trên ghế nhà trường, khi học về nền văn minh La-Hy (La Mã và Hy Lạp), bằng lối kể chuyện hấp dẫn, thày giáo đã khéo léo gieo vào lòng những đứa học trò một niềm đam mê thế giới sử. Thày dẫn chúng tôi đi ngược về quá khứ vàng son đế quốc La Mã, của Hy Lạp huyền thoại, những đứa con các vị thần, người hùng Achilles trong trận chiến thành Troy (the Trojan War), vừa lãng mạng vừa kiêu hùng. Tâm hồn những đứa trẻ con như chúng tôi bay bổng vào vùng trời mê hoặc, đứa nào đứa nấy háo hức, mơ một ngày được đặt chân lên vùng đất kỳ ảo, đầy kỳ tích về những chàng dũng sĩ thần thánh, biết yêu, biết buồn giận như con người.   

Tất cả kiến thức chúng tôi gom góp trong những trang sách từ những ngày thơ, tưởng đã phai mờ theo năm tháng, theo vận nổi trôi của đất nước, theo cơn “thủy triều đỏ” phũ phàng dập tắt ước mơ tuổi trẻ. Ngày tôi mua vé bay qua Athens, tôi mới tin rằng tôi sắp có cơ hội ghép lại những mảnh vỡ của một giấc mơ dang dở thời thơ ấu.

Athens là một thành phố hiện hữu rất lâu đời so với tất cả các thành phố lớn khác trên thế giới vì tính cách riêng biệt của nó: rất cổ điển mà cũng rất sôi động, đầy những nét hoài cổ còn đọng lại trên những tàn tích đền Acropolis, Parthenon, Hephaestus, Dionysus, Ancient Agora.  Chúng tôi đứng lặng nhìn những đổ nát hoang tàn còn lại và tưởng như trong gió, tiếng vó ngựa của những chiến xa, tiếng đao kiếm còn vang vọng đâu đây từ một thời rực rỡ Athens.

Hy Lạp vốn là cái nôi văn minh rực rỡ của Châu Âu, là nơi phát sinh ra phong trào thể thao Olympic đầu tiên trên thế giới. Đất nước này cũng là nơi sản sinh ra nền Dân Chủ (Democracy), nền Triết Học phương Tây (Western Philosophy) với hai nhà hiền triết nổi tiếng Plato và Socrates, và nền Kịch Nghệ (tragedy & comedy) đầu tiên của thế giới.

Hy Lạp tọa lạc trên bờ biển vùng Địa Trung Hải (Mediterranean), nơi tàu bè qua lại buôn bán phồn thịnh. Khí hậu tương đối ôn hòa, tràn đầy nắng ấm, dù trong mùa đông, bầu trời xanh trong hầu như quanh năm. Vì vậy, các quán ăn, quán cà phê đầy ắp khách ngồi bên ngoài. Nét kiến trúc ở Athens có pha trộn chút nét văn hóa của Rome (La Mã), Naples (Ý), và Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ); nếu càng đi sâu vào đất liền, càng có nhiều nét riêng dân tộc Hy Lạp hơn. Khu phố cổ Plaka và Monasteraki, nhà cửa, phố xá mang đậm nét truyền thống lâu đời, tương phản với khu phố Kolonaki và Gazi, lối kiến trúc rõ nét theo khuynh hướng mới của thời đại.

Du lịch ở đây không mắc mỏ như Paris, London hay Rome. Các quán ăn “Tavernas” giá cả phải chăng, đồ ăn ngon, hải sản tươi rói, món thịt trừu nướng rất mềm, gia vị nêm nếm vừa phải; món rau salad với dầu olive thơm ngon, rắc thêm một chút phô mai dê, tạo nên cái vị hơi chua pha lẫn vị béo ngọt ngào, rất vừa miệng đúng với ẩm thực vùng biển Địa Trung Hải. Hai người ăn một bữa thịnh soạn, ngon miệng chỉ tốn trên dưới 40 Euros.

Phương tiện đi lại tốt nhất ở Athens là metro, tram, buses, suburban rails vừa rẻ tiền mà cũng không mất thời giờ nhiều. Có thể mua vé đi lại trong thành phố cho 5 ngày, chỉ tốn 8.5 Euros. Đường phố thường bị kẹt xe vì nhỏ hẹp, quá nhiều xe hơi và xe gắn máy 2 bánh.

Chúng tôi thuê 1 căn AirBnB vừa túi tiền, gần khu trung tâm để từ đó có thể đi bộ đến các địa điểm nổi tiếng của Athens chỉ mất khoảng 15 đến 30 phút. Có một điều không ngờ, căn nhà chúng tôi thuê trong khu Exarchia Square, lại là nơi đầu não của một tổ chức vô chính phủ, vô tôn giáo lớn nhất của thế giới, cực đoan cánh tả, cấp tiến chống lại tư bản chủ nghĩa, chống chính phủ, chuyên đánh bom lửa nhà băng, đốt phá tiệm bán xe hơi hạng sang, hay bất cứ địa danh nào có mang chút hơi hám của chủ nghĩa tư bản và giàu sang. Những nhóm “Anarchy” này hành động giống như nhóm Antifa ở Mỹ.

Có 2 nhóm nổi tiếng: Fire Nuclei (Συνωμοσία των Πυρήνων της Φωτιάς) rất bạo động và nhóm Rouvikonas (Ρουβίκωνας), ôn hòa hơn. Nhóm Rouvikonas chuyên đi vẽ bậy (graffiti) lên tường khắp nơi trong khu phố, đến những tòa nhà cao tầng trên nhiều đại lộ trong thành phố, không chừa một cửa tiêm hay tòa nhà nào, nhìn thật chướng mắt. Điều này tạo một ấn tượng rất xấu đối với du khách, đặc biệt là chúng tôi, khi mới đến nơi này.

Chiếc Mercedes Sprinter đưa đón chúng tôi từ phi trường, ngừng trước tòa nhà chung cư AirBnB, các vách tường bị sơn đầy những hình vẽ xấu xí, vằn vện; gần 10 nhân viên cảnh sát mang súng ống, vũ khí và trang bị “gear” đầy đủ đứng ngay trước cửa, khiến chúng tôi ngỡ ngàng, tự hỏi hay mình đến lầm địa chỉ? Thật may, Andreas, người chủ nhà đã đứng đợi sẵn bên thềm, bước tới chào đón. Như đọc được ý nghĩ của chúng tôi, ông vội vàng giải thích rằng sự có mặt của cảnh sát là để ngăn ngừa ngày kỷ niệm biểu tình và bạo động của nhóm Anarchy.   

Sau khi tìm hiểu và nói chuyện với cảnh sát và người dân, chúng tôi mới biết hàng năm, cứ vào ngày 17 tháng 11, là thời điểm các nhóm vô chính phủ nổi loạn; cảnh sát được điều đến để răn đe, sẵn sàng dẹp tan những cuộc biểu tình, đốt phá có thể sẽ xảy ra. Họ đóng chốt ở đó và các ngã tư trong khu phố chúng tôi đang cư ngụ. Sự hiện diện của cảnh sát cũng khiến họ chùn tay, không dám bạo động.


Chúng tôi quyết định đi bộ để tận mắt thấy được những gì đã xảy ra nơi đây và cũng để nhìn ngắm sự pha trộn cổ kim giữa thành phố sôi động, người xe đầy đường, những tòa nhà cao tầng cũ kỹ dọc theo những đại lộ chật hẹp, quanh co; và quan trọng hơn là những di tích lịch sử nổi tiếng đều nằm ngay khu trung tâm Athens. Cái nét khác biệt nữa là nhiều khu phố mới xây lại được dựng lên ngay trên hoặc bên cạnh những khu di tích đổ nát đang được viện khảo cổ quốc gia đào bới lên. Người dân Athens vẫn đang sống cạnh bên những con đường, ngôi nhà mà cha ông họ đã từng sống từ ngàn năm trước.
Điều ấn tượng đầu tiên là Athens có rất nhiều tiệm cà phê. Vài tiệm cà phê ở đây có từ những năm 1923 và là văn hóa đặc trưng của người bản địa, họ coi việc thưởng thức ly cà phê gần như một nghi lễ tôn giáo, họ trân trọng cung cách uống cà phê, điều này nói lên được sắc thái riêng của người Athens. Họ thích ngồi hàng giờ trên ghế bên ngoài quán, thưởng thức tách cà phê. Thói quen này gọi là “kafedaki”.

Mọi cuộc họp hay làm ăn đều xảy ra ở bàn cà phê. Có một điều hơi khó chịu đối với du khách là dân Athens hút thuốc rất nhiều, trong tiệm cà phê, trong nhà hàng. Họ hút thuốc và “vô tư” nhả khói khắp mọi nơi, không hề để ý đến người chung quanh. Chúng tôi chưa thấy tiệm nào treo bảng cấm hút thuốc.
Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là Bảo Tàng Viện Khảo Cổ Quốc Gia, National Archeological Museum. Nơi đây trưng bày rất nhiều cổ vật cực kỳ quý giá, nếu muốn tìm hiểu thật sâu, chúng tôi phải dành trọn ít nhất 2 ngày để đi hết 3 tầng lầu của viện bảo tàng. Dầu sao, chỉ vài tiếng đồng hồ, chúng tôi cũng thỏa mãn, say sưa chiêm ngắm những vòng nguyệt quế dát vàng, những thanh kiếm, mũ nón, áo giáp như tái hiện lại hình ảnh chiến thần Zeus, chúa tể các vị thần trong thần thoại Hy Lạp; những chiến binh oai hùng trong trận chiến Hy Lạp và Ba Tư.

Đi qua các cổ vật trưng bày theo thứ tự từ cổ chí kim, giấc mơ ngày còn thơ tràn về, tôi thấy tôi đi lạc vào  một khung trời thần thoại, lộng lẫy trên đỉnh núi Olympus, nơi cánh cửa chia cách thế giới hữu hình và vô hình, nơi ngai vàng của chúa tể thần Zeus ngự trị, và cũng là nơi các vị thần lắng nghe lời cầu xin của loài người. Hồn tôi thoát xác, bay bổng lên cổng trời, ngắm nhìn những hàng cột đá trắng nạm vàng và không gian lung linh, kỳ ảo bên trong cung điện.

Gió thoảng nhẹ mang hương thơm của các loài hoa bất tử và tiếng nhã nhạc vang lừng khắp nơi. Đại sảnh Olympus được dựng từ những tảng cẩm thạch lớn, màu trắng sáng ngời, mái vòm trong như pha lê, biến tia sáng mặt trời thành một màu vàng ấm cúng trong không gian. Từng cột đá cao chạm đến tầng mây, những tấm màn gió mỏng bay phấp phới, tạo nên một khoảng không lung linh, như nơi giao hòa giữa đất-trời.

Thần Zeus, uy nghi lẫm liệt trên ngai, tóc râu bạc trắng, trong bàn tay ông, lưỡi thần sét tỏa ánh sáng xanh nhạt, chiếu sáng xuống các chư thần trong triều. Giọng ông vang như tiếng sấm, nhưng ấm và đầy sức mạnh của người nắm vận mệnh thế gian. Nữ thần Hera, vợ ông, ngồi bên cạnh, khoác áo long bào tím thẫm, vương miện vàng ánh như tia nắng ban mai.

Các chư thần tề tập đông đủ. Thần Hải Vương Tinh Poseidon, tay cầm cây chĩa ba oai phong, bước vào mang theo mùi biển mặn. Thần Hades, chúa tể cõi âm đứng lặng lẽ một góc sân chầu. Đôi song sinh,thần Apollo, và nữ thần Artemis, cũng đã đến, mang theo sinh khí tràn đầy.

Nữ thần Athena, thần bản mệnh của Athens, tay cầm tấm khiên Aegis đứng phía bên trái dáng vẻ rất khoan thai, tràn đầy bình yên và tự tin của thông minh và công lý. Bên cạnh là nữ thần Aphrodite, thần tình yêu, sắc đẹp và khoái cảm, ngồi giữa làn hương hoa hồng lơ lửng, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, áo khoác hờ hững lộ ra bờ vai nõn nà khiến ai nấy đều phải đưa mắt nhìn. Nữ thần Hermes, trên đôi hài có cánh, lướt nhẹ vào như một luồng gió. Còn nhiều nữ thần nữa mà tôi không nhớ hết tên, cũng lần lượt bước vào sân chầu.

Mãi đến lúc mấy người bạn trong nhóm đập mạnh lên vai, tôi mới bừng tỉnh giấc mơ thiên đường để trở lại với thực tại. Bước ra ngoài, ánh chiều dần buông. Tiếng xe cộ ồn ào, du khách ra vào tấp nập, chúng tôi thả bộ dọc theo đại lộ, đi loanh quanh phu phố nhỏ, tìm đến một quán ăn ấm cúng mà người chủ AirBnB đã giới thiệu. Một bữa ăn thật ngon đủ hương vị miền Địa Trung Hải.

nu than
NỮ THẦN ATHENA. National Archeological Museum.
nu than aphrodite
NỮ THẦN APHRODITE
Một điều đáng để ý là sự cách biệt giàu nghèo rất rõ nét ngay trong lòng thành phố Athens. Chỉ cần vài bước chân qua bên kia con dốc cao, một sự phồn vinh rõ ràng hiện ra với các tòa nhà cao to, đẹp, ngăn nắp, đường phố sạch sẽ và thẳng hơn, đặc biệt là không có bất cứ một hình vẽ grafitti nào; trong các quán ăn hay cà phê, nhân viên ăn mặc lịch sự, cổ thắt nơ, giày bóng loáng. Khách hàng đương nhiên ăn mặc thời trang, dập dìu tài tử giai nhân.

Ngay cả người ăn xin cũng khác. Một gã đàn ông trạc 40 tuổi, mặc áo veston bước đến trước mặt tôi, bằng thứ tiếng Anh ba rọi, anh ta xin thẳng 50 Euros để đi taxi đến bệnh viện vì anh đang … mệt, thở khó khăn; tôi cũng giả vờ đáp lại bằng thứ tiếng Anh còn ba rọi hơn hắn, rằng “anh trẻ hơn tôi và anh giàu hơn tôi”, anh khoái đi xe hơi, còn tôi phải đi bộ và tôi “broken English”. Rõ chán!

Ai đã đọc hoặc nghiên cứu Kinh Thánh, chắc đã từng biết những bức thư thánh Phao-Lô gởi tín hữu thành Cô-rin-tô. Chúng tôi cũng ghé qua thành phố này để chiêm ngưỡng con kinh đào Ismuth Korinthos, tuy không nổi tiếng nhưng là một thành tích đáng kể của sức người. Nó nối vịnh Korinthos với vịnh Saronic trong vùng biển Aegean.

Con kinh được đào và hoàn thành năm 1893, hơn một thế kỷ trước đây. Hiện nay chỉ những du thuyền nhỏ còn qua lại con kinh này, tàu lớn thì không vừa, tuy hiệu quả kinh tế không thành công, nhưng nó vẫn là một công trình tầm cỡ vào thời đó.

Nói chung, Hy Lạp và thủ đô Athens là một đất nước, một địa danh xứng đáng để bạn phải đến một lần vì nét văn hóa và một bề dày văn minh, lịch sử sáng chói mà Châu Âu vẫn còn thừa hưởng cho đến ngày nay. Nếu bạn yêu thích thế giới sử, bạn đã đến đúng nơi vì đi đâu bạn cũng có thể thấy dấu vết của một thời văn minh rực rỡ. Riêng tôi, tôi vẫn yêu mến Athens, tuy người Athens không còn như tôi mong ước, họ đã ngủ quên trên sự vinh quang, vẫn đang mơ giấc mơ quá khứ vàng son của dân tộc họ.

 
 
kinh dao corinth
KINH ĐÀO CORINTH. ISMUTH KORINTHOS. Dài 6.3 Km. Rộng 21.4 m.
                
nhom 8 nguoi
NHÓM 8 NGƯỜI, CHỈ CÒN LẠI 6, VÌ 2 NGƯỜI BỊ BỆNH ĐỘT NGỘT, NÊN BỎ CUỘC
        
NGUYỄN VĂN TỚI. Cuối năm 2025.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.