Hôm nay,  

Từ Chốn Xa Xôi Nào

25/12/202521:55:35(Xem: 814)
 
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” 

Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô. Ngực cô thắt lại. Hai mắt cô mở bung, to, tròn, ngơ ngác. Tiếng sủa hay câu nói cô không biết. Nhưng nó hằn học và gay gắt. Và nó phát ra từ miệng người đàn ông gần gũi nhất với cô trên thế gian. Cô run rẩy, len lén liếc cái bóng đàn ông lù lù trước mặt. Vẫn là chồng mình đây mà. Cái người mà cách đây không lâu đã giật cái micro trong tay ông chủ tịch cộng đồng, đã học đòi thiên hạ, quỳ xuống trước mặt cô trong đêm tiệc Tất Niên, đã sột soạt tiếng Anh cái câu công thức rẻ tiền và vô cùng sến súa,  đã làm cô cảm động đến suýt ngất đi. Will you marry me? Dù họ đã lấy nhau từ hồi cô còn ở Việt Nam nhưng cái mùi lãng mạn vẫn làm cô ngây ngất. Phút giây này người đàn ông lãng mạn ấy đã biến dạng. Chồng mình hay chỉ là một con quái vật. Ý nghĩ xớn xác trong đầu cô. Người đàn ông ngọt ngào độ nào đã chết thật rồi. 

Cô nín thở. Hai bàn tay quờ quạng trước mặt như cố xua một con ruồi con muỗi vô hình nào đó. Những ngón tay duỗi ra rồi co lại. Chới với, như tìm một cách vô vọng một điểm tựa an toàn. Rồi đôi cánh tay cô buông xuôi hai bên cái hình hài mảnh mai. Cái gì đó ngúc ngắc trong cổ họng. Cô bật tiếng ho khan. Không có gì ở khoảng ngăn cách cô và người đàn ông có hai con mắt đỏ ngầu đang quắc lên một tia nhìn gớm ghiếc. Cô hoảng sợ. Nếu hắn chồm lên, vung tay siết cổ cô, chắc chắn cô sẽ chết. Bởi chân tay cô mềm nhũn, sinh lực cô cạn kiệt. Cô không thể tháo chạy. Mà biết chạy đi đâu bây giờ. Cô thụt lùi từng bước. Đến khi lưng cô chạm mạnh vào vách tường.

Nghe tiếng ly vỡ, mẹ cô ở nhà sau hốt hoảng chạy lên, miệng há hốc, tròn mắt nhìn hai người, rồi dán mắt xuống những mảnh thủy tinh lấp lánh dưới nền nhà. Bà đứng trơ ra đó một phút đồng hồ rồi quay đầu cuống quýt chạy xuống bếp. Một lát bà trở lại, cái chổi trong tay này, đồ hốt rác trong tay kia. Cô đứng chết trân nhìn mẹ. Cái lưng già nua cong xuống, hai cánh tay hấp tấp quét, dọn. Không khí căn phòng đông cứng lại không biết bao lâu. Không ai nói với ai lời nào. Cô vẫn dán lưng vào vách tường. Cô biến thành bức tranh thiếu phụ nhập nhòe, khăn áo xộc xệch trên nền vôi trắng. 

Khi những mảnh vỡ thủy tinh đã được hốt đi, nền nhà đã được lau sạch bóng, những viên thuốc đã được lau chùi cẩn thận và bỏ lại vào trong lọ, bà mẹ già đã biến vào phòng, khép cửa lại thật nhẹ thì cơn đau nơi người đàn ông cũng rút đi như thủy triều. Cơ mặt anh ta dãn ra, như miếng cao su bị hơ nóng, anh ngồi xuống chiếc ghế nệm dày, hai tay ôm đầu, mắt nhắm lại. Lưng vẫn dựa vách tường, cô hít một hơi dài, nén xuống thật sâu trong lồng ngực. Cố tìm lời ngọt ngào để vuốt ve anh, cô rụt rè, “Anh cũng hiểu mà. Mấy tháng nay, má đi chùa cầu Trời Phật cho anh mau hết bịnh…” Anh quắc mắt nhìn cô. Hừ lên một tiếng trong cổ họng. Rồi gầm gừ, “Cũng vì cái sự đi cầu, đi khấn ấy chứ đâu.” 

Cô im lặng. Chồng cau có, bẳn gắt suốt ngày vì đau đớn. Vợ cắn răng chịu đựng. Người đàn ông này bị ám bởi những cơn đau quái dị. Cái đau cứ như người đàn bà dở hơi, vui đó rồi giận dỗi ngay đó. Nó không báo trước, nó biến anh thành kẻ đau giả vờ, thành cái cớ cho anh dựa vào để mỉa mai, xỉa xói. Cơn đau khiến anh chĩa mọi mũi dùi trên thế gian vào mẹ vợ. Lần nào anh đi tái khám về, cô cũng hỏi, “Có khá hơn, có bớt đi chút nào hôn, anh?” Và lần nào anh cũng cộc lốc, “Khá cái con mẹ cô ấy!” 

Con mẹ cô! Những chữ xoắn vào lồng ngực cô như những cái đinh ốc người thợ xoáy lên vách tường để treo một bức tranh. Từ ngày bị tai nạn, anh luôn réo “con mẹ cô” ra mà chửi. Không ai nói với ai nhưng cả anh và cô đều hiểu đó là hình ảnh mẹ cô, cái bà mẹ vợ đêm cuối năm cứ nằng nặc đòi con rể chở đi chùa cúng Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết. 

“Cái con mẹ cô ấy!” Câu nói cứ xoay vòng trong đầu cô. Câu chửi không đủ tục tằn, chợ búa như những câu chửi thề: đụ má, con đĩ mẹ… nhưng gói trọn nội dung những điều anh muốn bày tỏ, và đầy ắp cái mùi thô lỗ. Chiếc xe dúm dó, xương cốt chồng chập, thân thể đau nhức ngặt nghèo, công ăn việc làm gián đoạn; tất cả gây ra bởi không ai khác ngoài “con mẹ cô ấy”.

Có lần, suốt hai ngày cái đau không lảng vảng trở về, anh mừng như trúng số. Biết đâu nó bỏ đi luôn rồi như ông bác sĩ vẫn dự đoán. Anh lân la đến bên cô. Miệng anh lí nhí, “I’m sorry”. Chắc I’m sorry thì sẽ dễ nói hơn Anh xin lỗi. Nhưng mà rõ ràng I’m sorry thì không giá trị bằng Anh xin lỗi. Cô cũng nhận ra mình không bao giờ nói Em xin lỗi với chồng. Có thể tại mình đâu bao giờ lầm lỗi. Hoặc lỗi của mình nhẹ tênh, so với lỗi của chồng. Cô lắng nghe câu I am sorry của anh. Âm hưởng câu nói mềm như những sợi bún tươi. Nó làm cô cảm động rươm rướm nước mắt. Khi anh hết đau, họ lại trò chuyện với nhau. Toàn những câu đối đáp vu vơ. Thỉnh thoảng họ nhìn vào mắt nhau. Anh thấy cô gầy gò, lạ lẫm. Cô thấy anh hom hem như ông cụ. Từ hôm chiếc xe anh cầm lái xoay vòng trên mặt đường đóng băng và đâm sầm vào cột đèn, hình ảnh cô mờ hẳn đi trong thế giới anh. Cô thành chiếc bóng vật vờ trong khoảng không gian anh chiếm hữu. Khi cơn đau trở về, những kẻ lảng vảng trong thế giới anh đều thừa thãi và làm anh khó chịu. Trong đó có cô. Từ hôm bị tai nạn đến giờ, anh chỉ biết có cơn đau, anh không cần biết cô là ai, đang làm gì, và đang sống ở đâu. Anh cũng chẳng cần biết cô có bình yên không.  

Bây giờ xem như cô có hai ông chồng. Một ông hiền, một ông ác. Những lúc không bị cơn đau hành hạ, ông Hiền trở về. Anh cười hiền, anh xuống giọng ngọt ngào, cái giọng đã đổ vào tai cô cái câu Will you marry me độ nào. Anh nhỏ nhẹ vỗ về, anh thành chàng rể những ngày đầu trăng mật. Anh kể chuyện về ông bác sĩ, về anh thông dịch, về cô thư ký, về cái phòng mạch có đầy sách ở hai vách tường. Anh vui miệng kể cho cô nghe chuyện đi tái khám. Tức cười lắm em biết không. Ông bác sĩ tâm lý của anh, thế kỷ này người ta đã dùng MP3, Bluetooth, đủ loại apps. mà ông vẫn dùng cái máy cát sét cũ. Không biết cách điều trị của ông có kết quả hay không nữa. Ông ấy có bằng Ph.D. về Tâm Lý Học, em biết không. Ông ấy chuyên trị về cách đương đầu với sự đau đớn. Khám bệnh gì mà toàn những buổi giải thích khô khan bằng cái giọng lai Ấn Độ của ông ấy, dịch qua tiếng Việt bởi một tay thông dịch viên. Ông ấy bắt anh nằm nghe anh thông dịch đọc bài viết của ông ấy. Nghe và nhắm mắt thư giãn. Rồi anh thông dịch viên thâu băng bài đọc ấy vào băng cát sét. Ông ấy bắt anh nằm nghe băng trong lúc ông ấy khám cho bệnh nhân khác. 

Anh kể và cô chăm chú lắng nghe. Rồi cô gợi ý sao anh không đem cát sét về nhà để nghe mỗi ngày, vừa giúp mau khỏi, vừa giúp ông bác sĩ tin mình thực sự muốn khỏi, không kéo dài việc chữa trị để ăn tiền bảo hiểm. Anh gật gù suy nghĩ và lặng thinh. Mỗi lần ông Hiền trở về, anh chuyện trò tíu tít, cô ngồi chăm chú nghe, vui lây cái vui của chồng. Cô hỏi tên ông bác sĩ, cô hỏi tên người thông dịch. Anh thì đầu óc đang bận suy nghĩ về cơn đau. Anh phải đo đếm nó. Mỗi khi nó đến, anh phải đo từ zero đến mười, cái đau nằm ở chỗ nào. Giờ nào nó đến. Nó ở lại bao lâu. Làm cách nào thì bớt đau. Mỗi lần cơn đau trở về, nó hành anh đến mức chỉ nghĩ đến nó, anh đã thấy đau. 

“Vậy chớ anh thông dịch viên tên gì?” Cô hỏi một câu lạc đề. Anh nheo mắt suy nghĩ. Anh nhớ hôm đầu tiên ông bác sĩ có giới thiệu tên của người thông dịch, nhưng anh không để ý nghe.

“Người Việt thì phải tên tiếng Việt, đúng không anh?” Cô nhắc. 

Chiều lòng vợ, anh nói đại một cái tên. 

Cô đổi qua chuyện khác, “Em mừng thấy anh bớt nhiều hơn lúc trước, chớ lúc đau, anh mè nheo, gây gổ tới mức em cũng muốn khùng luôn.” 

Ông Hiền toét miệng khoe một nụ cười hiền. Những thoáng vui như vậy qua mau. Ông Ác luôn trở về không hẹn trước. Ông Ác luôn xuất hiện bất ngờ. 
Một hôm sau buổi tái khám, anh đem về một cuốn băng và cái cát sét cũ, “Đây này, ông bác sĩ bảo anh nghe băng cát sét này cho mau khỏi. Cách chữa bệnh kỳ cục. Đã uống gần chục viên thuốc thì cần gì phải nghe băng cát sét. Thật là ấm ớ.” Và anh quăng cái cát sét và cuộn băng vào một góc tủ quần áo.

Thời gian cứ đều đặn trôi. Gần một năm rồi mà những cơn đau không giảm. Và ông Hiền, ông Ác thay phiên nhau đến với cô. Đời sống cô kẻ rõ hai vạch màu: đen tuyền và trắng bệch. Mỗi ông ngự trị một màu. Một hôm trong cơn đau, ông Ác lồng lộn trở về. Không nhìn ra được chân dung ông Ác trong người đàn ông đang đứng trước mặt mình, cô nhỏ nhẹ dỗ dành. Anh xô cô ra, rống lên, “Tôi muốn ly dị.” Anh ngừng lại, bóp trán suy nghĩ vài giây, những ngón tay của ông Hiền cố gắng làm dịu cơn điên của ông Ác nhưng không thành. Ông Ác lại gào lên, “Nhưng ly dị thì cũng đã muộn rồi. lẽ ra tôi không lấy cô ngay từ đầu. Lẽ ra tôi không nên đem mẹ con cô qua đây. Vì mẹ con cô mà tôi mới ra nông nỗi này.” 

Cô tủi thân vào phòng đóng cửa lại khóc một mình. Lâu nay cô quen khóc một mình. Từ khi theo chồng sang xứ sở lạnh giá này, cô chỉ khóc vào dịp cuối năm, khi bên nhà đón Giao Thừa, khi mẹ cô còn ở cách xa cô hàng ngàn cây số. Người ta khóc chán thì ngủ thiếp đi còn cô thì thao thức. Cô mở tủ lục lọi những cuốn sách bồng bế từ Việt Nam sang đang đọc dở dang, moi ra những xấp quần áo lâu nay không mặc tới. Loay hoay một hồi cô bắt gặp cái cát sét cũ và cuộn băng bác sĩ bắt chồng cô đem về để nghe mỗi tối. Cô nhìn nó đăm đăm. Cái này bác sĩ bảo là nó giúp giảm bớt cơn đau. Tại sao mình không nghe thử xem sao. Cô nghĩ. Chẳng phải mình đang đau đến cùng cực hay sao. Cô đem nó về phòng, gắn headphone vào tai, đẩy cuốn băng vào máy và loay hoay bấm cho máy chạy. 

Giọng đàn ông rất trầm, rất ấm thổi vào tai cô. Cô rùng mình. Sao lại có người nói năng ngọt ngào đến như thế. Âm hưởng dìu dặt, miên man, như vọng về từ chốn xa xôi nào đó, quá đỗi bình yên, ngỡ như không thể nào có thật.

Từ hôm ấy, mỗi tối người đàn ông không biết mặt ấy thì thầm ru cô ngủ. Những giấc ngủ bồng bềnh, êm ái. Những giấc ngủ mềm mại, khói sương. Những giấc ngủ bình yên chưa một lần bắt gặp. Trong căn phòng trống trải, trên chiếc giường thênh thang, cô không còn thấy lạnh lẽo, lẻ loi. Phương thức điều trị ấy thực sự đã giúp cô đương đầu với cơn đau của chồng. Bây giờ cô tin cách điều trị kỳ cục của ông bác sĩ tâm thần là sáng suốt và có hiệu quả. Phương pháp ấy vớt cô ra khỏi vũng buồn và trao cho cô chiếc khăn sạch để cô lau nước mắt. 

Cuối năm mẹ cô về Việt Nam ăn Tết. Mới xa nhau chưa đầy hai hôm, cô đã gọi về cho mẹ. Buổi tối, trong phòng ngủ của hai vợ chồng bây giờ là giang sơn của riêng cô, cô FaceTime với mẹ. Cuộc trò chuyện bắt đầu đúng lúc ông Ác trở về. Ngoài hành lang, anh lồng lộn đi tới đi lui, ôm đầu, nghiến răng. Những câu đối thoại nhập nhằng luồn qua khe cửa phòng ngủ của hai người, xoáy vào lỗ tai anh. Anh nghe cô xin lỗi mẹ vì những lời nói hỗn xược của chồng. Anh cố nén cơn đau để lắng nghe. Giọng cô nặng mùi trách móc. Cũng tại má nữa, khuya lắc khuya lơ mà còn đòi đi. Mà Giao thừa Việt Nam thì đúng ra má phải đi chùa lúc mười hai giờ trưa, mắc mớ chi đi lúc nửa đêm ngay giữa cơn bão tuyết ở Canada. Hình như mẹ cô cằn nhằn rằng Mày qua bên đấy cả hai ba năm rồi mà hổng chịu học lái xe. Giọng cô hụt hẫng, Bên này đông xe, sợ thấy mồ. Và mẹ ngắt lời cô, Đông làm sao bằng được bên Việt Nam. Rồi giọng mẹ cô áy náy chuyện bắt con rể đưa đi chùa đêm Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết, để anh bị đụng xe. Cô ngắt lời mẹ, Đã vậy, lúc đụng xe, má tung cửa nhảy ra ngoài, lại còn đứng bên lề đường mà nhìn. Mẹ cô cãi, Lúc ấy tay chưn tao run quá trời quá đất. Cô bắt bẻ, Phải như hồi đó má ngồi im trong xe, giả bộ ngất xỉu, để ambulance nó đưa đi bịnh viện, là bây giờ má cũng được tiền bảo hiểm rồi. Anh nghe từ bên kia đại dương vọng lại cái giọng phân bua của bà mẹ vợ, Tao thấy xe cháy trên ti vi hoài nên mới vội nhảy ra, lúc ấy run quá trời quá đất, còn nhớ gì được chớ. Và giọng vợ anh kêu rêu, Tội nghiệp ảnh, bị cái vô lăng xe đập vào ngực, gẫy năm sáu cái ba sườn. 

Anh nghiến răng, lảo đảo ôm đầu, bước về căn phòng nhỏ dành cho khách mà cả năm nay là của riêng anh. Anh đóng cửa lại để không nghe thấy những lời chạy tội. Căn phòng nhỏ như cái hộp nhưng ấm cúng và yên tĩnh. Anh cong người quay mặt vào tường, vặn vẹo thân thể theo vòng xoáy những cái đinh rỉ sét mà ông Ác nghiến vào từng thớ thịt khắp châu thân.  

Anh vẫn đi bác sĩ, bác sĩ hỏi và anh vẫn nói dối là vẫn nghe cuốn băng mỗi tối, bác sĩ hài lòng, Tốt lắm, nó giúp anh thư giãn, nó giúp làm tan đi cơn đau, kết quả sẽ rất tốt. Anh cười như mếu. Anh không tin chỉ nghe cuốn băng mà hết bệnh, anh cũng không nhớ cuốn băng và cái cát sét nằm ở xó xỉnh nào trong căn phòng chung cư của họ. 

Một lần nọ suốt ba ngày không có cơn đau nào, Ông Hiền - người chồng tử tế - trở về. Những cơn thèm cùn mằn của nhân gian cũng theo về. Anh thèm đủ thứ. Thuốc men làm cái miệng đắng chát vậy mà bỗng dưng anh thèm một tô phở tái có bò viên. Một ly cà phê thơm nức mũi. Mùi cà phê, mùi rau thơm, mùi xào nấu đồ ăn dạt về cấu xe anh. Cơn thèm lan tới mùi dầu thơm quen thuộc vợ anh vẫn xức lên tóc, mùi dầu thơm lan qua mùi tóc gây gây, quyện đến mùi thịt da nồng nàn. Anh bỗng nhớ cái mềm mại của làn da, cái mượt mà của dòng tóc, tiếng thì thào bên tai, tiếng xuýt xoa nho nhỏ như thoáng gió đậu trên cánh môi. Cả đến cái ấm mềm của nụ hôn. Đến những mẩy gai ốc nổi trên da sau những vuốt ve mời gọi. Anh khẽ đẩy cửa phòng của vợ, rón rén bước vào căn phòng đã lâu vắng bóng anh. Anh đứng lặng một lát cho quen với bóng tối. Lâu lắm anh không bén mảng đến phòng này. Trong bóng tối anh thấy cái máy cát sét nằm ngay ngắn trên đầu giường, chỗ trước kia là cái gối nằm của anh. Cuốn băng đang chạy. Ngọn đèn đỏ chớp đều, và anh nhận ra vợ anh đang nghe headphone. Rõ ràng vợ đang ngủ. Anh đứng lặng, nghiêng đầu  ngắm. Ánh đèn ngủ mờ ảo hằn rõ nét tiều tụy trên khuôn mặt trái xoan có đôi má hóp. Anh thở dài, thấy tội nghiệp vợ. Anh nhìn đôi bờ ngực chỉ hơi gồ lên một chút bên dưới tấm chăn mỏng. Lâu lắm anh không vùi lên đó những môi hôn. Chợt cô khẽ trở mình. Cô rên nho nhỏ. Và cô ưỡn người qua một bên, hai tay tuồi ra ngoài lớp chăn, đặt lên hai bầu vú. Anh căng tròn hai mắt. Tim anh rối lên trong lồng ngực. Cơn thèm căng cứng từng thớ thịt. Anh từ từ bước lại cạnh giường, hồi hộp như đứa con trai mới lớn mò vào giường cô gái vừa quen. Bỗng dưng anh đứng sững lại khi nghe vợ gọi tên ai đó. Anh nghiêng đầu lắng nghe tiếng rên luồn trong hơi thở của cô. Đừng Phú ơi… Hổng được đâu... Tối mai đi, Anh lộn xộn quá… Đứa nào thế này. Đứa nào chui cả vào giấc mơ của vợ anh thế này. Mặt anh nóng bừng. Và anh nhận ra ấy là cái tên mà anh đã nói đại với cô rằng đó là tên người thông dịch.

Anh nhẹ nhàng gỡ cái headphone ở tai vợ, gài vào lỗ tai mình. Anh nhận ra cái giọng trầm đục quen thuộc của người thông dịch viên ở phòng khám bác sĩ. Cái kẻ anh không buồn nhớ tên nhưng đã cho hắn mang đại tên Phú khi vợ hỏi. Người đàn ông có cái tên ấy vừa mới thì thào trong hơi thở của vợ. Giọng hắn trong headphone vẫn lúc xa như lời dặn dò mất hút ở khúc quanh, lúc gần như đang thì thầm bên gối ấm; vẫn lúc này dịu dàng, lúc kia sôi nổi; vẫn đều đều rót vào tai anh như con nước lững lờ xuôi trong dòng suối cạn: “Hãy nhắm mắt tưởng tượng mình nằm thả lỏng thân thể, duỗi hai chân, xuôi hai tay hai bên mình. Hãy hình dung bờ cát mềm và ấm bên dưới thân thể, sóng biển dạt dào chung quanh… Hãy nhắm mắt tưởng tượng từng cơn gió vuốt ve trên da thịt. Hãy hình dung có một người yêu thương mình nhất trên thế gian. Hãy tưởng tượng bàn tay mềm mại của người ấy xoa nhẹ ở những nơi cơn đau xốn xang nhất… Hãy buông thả, hãy để thân xác bồng bềnh trôi…” 
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.