Hôm nay,  

Từ Chốn Xa Xôi Nào

25/12/202521:55:35(Xem: 850)
 
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” 

Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô. Ngực cô thắt lại. Hai mắt cô mở bung, to, tròn, ngơ ngác. Tiếng sủa hay câu nói cô không biết. Nhưng nó hằn học và gay gắt. Và nó phát ra từ miệng người đàn ông gần gũi nhất với cô trên thế gian. Cô run rẩy, len lén liếc cái bóng đàn ông lù lù trước mặt. Vẫn là chồng mình đây mà. Cái người mà cách đây không lâu đã giật cái micro trong tay ông chủ tịch cộng đồng, đã học đòi thiên hạ, quỳ xuống trước mặt cô trong đêm tiệc Tất Niên, đã sột soạt tiếng Anh cái câu công thức rẻ tiền và vô cùng sến súa,  đã làm cô cảm động đến suýt ngất đi. Will you marry me? Dù họ đã lấy nhau từ hồi cô còn ở Việt Nam nhưng cái mùi lãng mạn vẫn làm cô ngây ngất. Phút giây này người đàn ông lãng mạn ấy đã biến dạng. Chồng mình hay chỉ là một con quái vật. Ý nghĩ xớn xác trong đầu cô. Người đàn ông ngọt ngào độ nào đã chết thật rồi. 

Cô nín thở. Hai bàn tay quờ quạng trước mặt như cố xua một con ruồi con muỗi vô hình nào đó. Những ngón tay duỗi ra rồi co lại. Chới với, như tìm một cách vô vọng một điểm tựa an toàn. Rồi đôi cánh tay cô buông xuôi hai bên cái hình hài mảnh mai. Cái gì đó ngúc ngắc trong cổ họng. Cô bật tiếng ho khan. Không có gì ở khoảng ngăn cách cô và người đàn ông có hai con mắt đỏ ngầu đang quắc lên một tia nhìn gớm ghiếc. Cô hoảng sợ. Nếu hắn chồm lên, vung tay siết cổ cô, chắc chắn cô sẽ chết. Bởi chân tay cô mềm nhũn, sinh lực cô cạn kiệt. Cô không thể tháo chạy. Mà biết chạy đi đâu bây giờ. Cô thụt lùi từng bước. Đến khi lưng cô chạm mạnh vào vách tường.

Nghe tiếng ly vỡ, mẹ cô ở nhà sau hốt hoảng chạy lên, miệng há hốc, tròn mắt nhìn hai người, rồi dán mắt xuống những mảnh thủy tinh lấp lánh dưới nền nhà. Bà đứng trơ ra đó một phút đồng hồ rồi quay đầu cuống quýt chạy xuống bếp. Một lát bà trở lại, cái chổi trong tay này, đồ hốt rác trong tay kia. Cô đứng chết trân nhìn mẹ. Cái lưng già nua cong xuống, hai cánh tay hấp tấp quét, dọn. Không khí căn phòng đông cứng lại không biết bao lâu. Không ai nói với ai lời nào. Cô vẫn dán lưng vào vách tường. Cô biến thành bức tranh thiếu phụ nhập nhòe, khăn áo xộc xệch trên nền vôi trắng. 

Khi những mảnh vỡ thủy tinh đã được hốt đi, nền nhà đã được lau sạch bóng, những viên thuốc đã được lau chùi cẩn thận và bỏ lại vào trong lọ, bà mẹ già đã biến vào phòng, khép cửa lại thật nhẹ thì cơn đau nơi người đàn ông cũng rút đi như thủy triều. Cơ mặt anh ta dãn ra, như miếng cao su bị hơ nóng, anh ngồi xuống chiếc ghế nệm dày, hai tay ôm đầu, mắt nhắm lại. Lưng vẫn dựa vách tường, cô hít một hơi dài, nén xuống thật sâu trong lồng ngực. Cố tìm lời ngọt ngào để vuốt ve anh, cô rụt rè, “Anh cũng hiểu mà. Mấy tháng nay, má đi chùa cầu Trời Phật cho anh mau hết bịnh…” Anh quắc mắt nhìn cô. Hừ lên một tiếng trong cổ họng. Rồi gầm gừ, “Cũng vì cái sự đi cầu, đi khấn ấy chứ đâu.” 

Cô im lặng. Chồng cau có, bẳn gắt suốt ngày vì đau đớn. Vợ cắn răng chịu đựng. Người đàn ông này bị ám bởi những cơn đau quái dị. Cái đau cứ như người đàn bà dở hơi, vui đó rồi giận dỗi ngay đó. Nó không báo trước, nó biến anh thành kẻ đau giả vờ, thành cái cớ cho anh dựa vào để mỉa mai, xỉa xói. Cơn đau khiến anh chĩa mọi mũi dùi trên thế gian vào mẹ vợ. Lần nào anh đi tái khám về, cô cũng hỏi, “Có khá hơn, có bớt đi chút nào hôn, anh?” Và lần nào anh cũng cộc lốc, “Khá cái con mẹ cô ấy!” 

Con mẹ cô! Những chữ xoắn vào lồng ngực cô như những cái đinh ốc người thợ xoáy lên vách tường để treo một bức tranh. Từ ngày bị tai nạn, anh luôn réo “con mẹ cô” ra mà chửi. Không ai nói với ai nhưng cả anh và cô đều hiểu đó là hình ảnh mẹ cô, cái bà mẹ vợ đêm cuối năm cứ nằng nặc đòi con rể chở đi chùa cúng Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết. 

“Cái con mẹ cô ấy!” Câu nói cứ xoay vòng trong đầu cô. Câu chửi không đủ tục tằn, chợ búa như những câu chửi thề: đụ má, con đĩ mẹ… nhưng gói trọn nội dung những điều anh muốn bày tỏ, và đầy ắp cái mùi thô lỗ. Chiếc xe dúm dó, xương cốt chồng chập, thân thể đau nhức ngặt nghèo, công ăn việc làm gián đoạn; tất cả gây ra bởi không ai khác ngoài “con mẹ cô ấy”.

Có lần, suốt hai ngày cái đau không lảng vảng trở về, anh mừng như trúng số. Biết đâu nó bỏ đi luôn rồi như ông bác sĩ vẫn dự đoán. Anh lân la đến bên cô. Miệng anh lí nhí, “I’m sorry”. Chắc I’m sorry thì sẽ dễ nói hơn Anh xin lỗi. Nhưng mà rõ ràng I’m sorry thì không giá trị bằng Anh xin lỗi. Cô cũng nhận ra mình không bao giờ nói Em xin lỗi với chồng. Có thể tại mình đâu bao giờ lầm lỗi. Hoặc lỗi của mình nhẹ tênh, so với lỗi của chồng. Cô lắng nghe câu I am sorry của anh. Âm hưởng câu nói mềm như những sợi bún tươi. Nó làm cô cảm động rươm rướm nước mắt. Khi anh hết đau, họ lại trò chuyện với nhau. Toàn những câu đối đáp vu vơ. Thỉnh thoảng họ nhìn vào mắt nhau. Anh thấy cô gầy gò, lạ lẫm. Cô thấy anh hom hem như ông cụ. Từ hôm chiếc xe anh cầm lái xoay vòng trên mặt đường đóng băng và đâm sầm vào cột đèn, hình ảnh cô mờ hẳn đi trong thế giới anh. Cô thành chiếc bóng vật vờ trong khoảng không gian anh chiếm hữu. Khi cơn đau trở về, những kẻ lảng vảng trong thế giới anh đều thừa thãi và làm anh khó chịu. Trong đó có cô. Từ hôm bị tai nạn đến giờ, anh chỉ biết có cơn đau, anh không cần biết cô là ai, đang làm gì, và đang sống ở đâu. Anh cũng chẳng cần biết cô có bình yên không.  

Bây giờ xem như cô có hai ông chồng. Một ông hiền, một ông ác. Những lúc không bị cơn đau hành hạ, ông Hiền trở về. Anh cười hiền, anh xuống giọng ngọt ngào, cái giọng đã đổ vào tai cô cái câu Will you marry me độ nào. Anh nhỏ nhẹ vỗ về, anh thành chàng rể những ngày đầu trăng mật. Anh kể chuyện về ông bác sĩ, về anh thông dịch, về cô thư ký, về cái phòng mạch có đầy sách ở hai vách tường. Anh vui miệng kể cho cô nghe chuyện đi tái khám. Tức cười lắm em biết không. Ông bác sĩ tâm lý của anh, thế kỷ này người ta đã dùng MP3, Bluetooth, đủ loại apps. mà ông vẫn dùng cái máy cát sét cũ. Không biết cách điều trị của ông có kết quả hay không nữa. Ông ấy có bằng Ph.D. về Tâm Lý Học, em biết không. Ông ấy chuyên trị về cách đương đầu với sự đau đớn. Khám bệnh gì mà toàn những buổi giải thích khô khan bằng cái giọng lai Ấn Độ của ông ấy, dịch qua tiếng Việt bởi một tay thông dịch viên. Ông ấy bắt anh nằm nghe anh thông dịch đọc bài viết của ông ấy. Nghe và nhắm mắt thư giãn. Rồi anh thông dịch viên thâu băng bài đọc ấy vào băng cát sét. Ông ấy bắt anh nằm nghe băng trong lúc ông ấy khám cho bệnh nhân khác. 

Anh kể và cô chăm chú lắng nghe. Rồi cô gợi ý sao anh không đem cát sét về nhà để nghe mỗi ngày, vừa giúp mau khỏi, vừa giúp ông bác sĩ tin mình thực sự muốn khỏi, không kéo dài việc chữa trị để ăn tiền bảo hiểm. Anh gật gù suy nghĩ và lặng thinh. Mỗi lần ông Hiền trở về, anh chuyện trò tíu tít, cô ngồi chăm chú nghe, vui lây cái vui của chồng. Cô hỏi tên ông bác sĩ, cô hỏi tên người thông dịch. Anh thì đầu óc đang bận suy nghĩ về cơn đau. Anh phải đo đếm nó. Mỗi khi nó đến, anh phải đo từ zero đến mười, cái đau nằm ở chỗ nào. Giờ nào nó đến. Nó ở lại bao lâu. Làm cách nào thì bớt đau. Mỗi lần cơn đau trở về, nó hành anh đến mức chỉ nghĩ đến nó, anh đã thấy đau. 

“Vậy chớ anh thông dịch viên tên gì?” Cô hỏi một câu lạc đề. Anh nheo mắt suy nghĩ. Anh nhớ hôm đầu tiên ông bác sĩ có giới thiệu tên của người thông dịch, nhưng anh không để ý nghe.

“Người Việt thì phải tên tiếng Việt, đúng không anh?” Cô nhắc. 

Chiều lòng vợ, anh nói đại một cái tên. 

Cô đổi qua chuyện khác, “Em mừng thấy anh bớt nhiều hơn lúc trước, chớ lúc đau, anh mè nheo, gây gổ tới mức em cũng muốn khùng luôn.” 

Ông Hiền toét miệng khoe một nụ cười hiền. Những thoáng vui như vậy qua mau. Ông Ác luôn trở về không hẹn trước. Ông Ác luôn xuất hiện bất ngờ. 
Một hôm sau buổi tái khám, anh đem về một cuốn băng và cái cát sét cũ, “Đây này, ông bác sĩ bảo anh nghe băng cát sét này cho mau khỏi. Cách chữa bệnh kỳ cục. Đã uống gần chục viên thuốc thì cần gì phải nghe băng cát sét. Thật là ấm ớ.” Và anh quăng cái cát sét và cuộn băng vào một góc tủ quần áo.

Thời gian cứ đều đặn trôi. Gần một năm rồi mà những cơn đau không giảm. Và ông Hiền, ông Ác thay phiên nhau đến với cô. Đời sống cô kẻ rõ hai vạch màu: đen tuyền và trắng bệch. Mỗi ông ngự trị một màu. Một hôm trong cơn đau, ông Ác lồng lộn trở về. Không nhìn ra được chân dung ông Ác trong người đàn ông đang đứng trước mặt mình, cô nhỏ nhẹ dỗ dành. Anh xô cô ra, rống lên, “Tôi muốn ly dị.” Anh ngừng lại, bóp trán suy nghĩ vài giây, những ngón tay của ông Hiền cố gắng làm dịu cơn điên của ông Ác nhưng không thành. Ông Ác lại gào lên, “Nhưng ly dị thì cũng đã muộn rồi. lẽ ra tôi không lấy cô ngay từ đầu. Lẽ ra tôi không nên đem mẹ con cô qua đây. Vì mẹ con cô mà tôi mới ra nông nỗi này.” 

Cô tủi thân vào phòng đóng cửa lại khóc một mình. Lâu nay cô quen khóc một mình. Từ khi theo chồng sang xứ sở lạnh giá này, cô chỉ khóc vào dịp cuối năm, khi bên nhà đón Giao Thừa, khi mẹ cô còn ở cách xa cô hàng ngàn cây số. Người ta khóc chán thì ngủ thiếp đi còn cô thì thao thức. Cô mở tủ lục lọi những cuốn sách bồng bế từ Việt Nam sang đang đọc dở dang, moi ra những xấp quần áo lâu nay không mặc tới. Loay hoay một hồi cô bắt gặp cái cát sét cũ và cuộn băng bác sĩ bắt chồng cô đem về để nghe mỗi tối. Cô nhìn nó đăm đăm. Cái này bác sĩ bảo là nó giúp giảm bớt cơn đau. Tại sao mình không nghe thử xem sao. Cô nghĩ. Chẳng phải mình đang đau đến cùng cực hay sao. Cô đem nó về phòng, gắn headphone vào tai, đẩy cuốn băng vào máy và loay hoay bấm cho máy chạy. 

Giọng đàn ông rất trầm, rất ấm thổi vào tai cô. Cô rùng mình. Sao lại có người nói năng ngọt ngào đến như thế. Âm hưởng dìu dặt, miên man, như vọng về từ chốn xa xôi nào đó, quá đỗi bình yên, ngỡ như không thể nào có thật.

Từ hôm ấy, mỗi tối người đàn ông không biết mặt ấy thì thầm ru cô ngủ. Những giấc ngủ bồng bềnh, êm ái. Những giấc ngủ mềm mại, khói sương. Những giấc ngủ bình yên chưa một lần bắt gặp. Trong căn phòng trống trải, trên chiếc giường thênh thang, cô không còn thấy lạnh lẽo, lẻ loi. Phương thức điều trị ấy thực sự đã giúp cô đương đầu với cơn đau của chồng. Bây giờ cô tin cách điều trị kỳ cục của ông bác sĩ tâm thần là sáng suốt và có hiệu quả. Phương pháp ấy vớt cô ra khỏi vũng buồn và trao cho cô chiếc khăn sạch để cô lau nước mắt. 

Cuối năm mẹ cô về Việt Nam ăn Tết. Mới xa nhau chưa đầy hai hôm, cô đã gọi về cho mẹ. Buổi tối, trong phòng ngủ của hai vợ chồng bây giờ là giang sơn của riêng cô, cô FaceTime với mẹ. Cuộc trò chuyện bắt đầu đúng lúc ông Ác trở về. Ngoài hành lang, anh lồng lộn đi tới đi lui, ôm đầu, nghiến răng. Những câu đối thoại nhập nhằng luồn qua khe cửa phòng ngủ của hai người, xoáy vào lỗ tai anh. Anh nghe cô xin lỗi mẹ vì những lời nói hỗn xược của chồng. Anh cố nén cơn đau để lắng nghe. Giọng cô nặng mùi trách móc. Cũng tại má nữa, khuya lắc khuya lơ mà còn đòi đi. Mà Giao thừa Việt Nam thì đúng ra má phải đi chùa lúc mười hai giờ trưa, mắc mớ chi đi lúc nửa đêm ngay giữa cơn bão tuyết ở Canada. Hình như mẹ cô cằn nhằn rằng Mày qua bên đấy cả hai ba năm rồi mà hổng chịu học lái xe. Giọng cô hụt hẫng, Bên này đông xe, sợ thấy mồ. Và mẹ ngắt lời cô, Đông làm sao bằng được bên Việt Nam. Rồi giọng mẹ cô áy náy chuyện bắt con rể đưa đi chùa đêm Giao Thừa ngay trong cơn bão tuyết, để anh bị đụng xe. Cô ngắt lời mẹ, Đã vậy, lúc đụng xe, má tung cửa nhảy ra ngoài, lại còn đứng bên lề đường mà nhìn. Mẹ cô cãi, Lúc ấy tay chưn tao run quá trời quá đất. Cô bắt bẻ, Phải như hồi đó má ngồi im trong xe, giả bộ ngất xỉu, để ambulance nó đưa đi bịnh viện, là bây giờ má cũng được tiền bảo hiểm rồi. Anh nghe từ bên kia đại dương vọng lại cái giọng phân bua của bà mẹ vợ, Tao thấy xe cháy trên ti vi hoài nên mới vội nhảy ra, lúc ấy run quá trời quá đất, còn nhớ gì được chớ. Và giọng vợ anh kêu rêu, Tội nghiệp ảnh, bị cái vô lăng xe đập vào ngực, gẫy năm sáu cái ba sườn. 

Anh nghiến răng, lảo đảo ôm đầu, bước về căn phòng nhỏ dành cho khách mà cả năm nay là của riêng anh. Anh đóng cửa lại để không nghe thấy những lời chạy tội. Căn phòng nhỏ như cái hộp nhưng ấm cúng và yên tĩnh. Anh cong người quay mặt vào tường, vặn vẹo thân thể theo vòng xoáy những cái đinh rỉ sét mà ông Ác nghiến vào từng thớ thịt khắp châu thân.  

Anh vẫn đi bác sĩ, bác sĩ hỏi và anh vẫn nói dối là vẫn nghe cuốn băng mỗi tối, bác sĩ hài lòng, Tốt lắm, nó giúp anh thư giãn, nó giúp làm tan đi cơn đau, kết quả sẽ rất tốt. Anh cười như mếu. Anh không tin chỉ nghe cuốn băng mà hết bệnh, anh cũng không nhớ cuốn băng và cái cát sét nằm ở xó xỉnh nào trong căn phòng chung cư của họ. 

Một lần nọ suốt ba ngày không có cơn đau nào, Ông Hiền - người chồng tử tế - trở về. Những cơn thèm cùn mằn của nhân gian cũng theo về. Anh thèm đủ thứ. Thuốc men làm cái miệng đắng chát vậy mà bỗng dưng anh thèm một tô phở tái có bò viên. Một ly cà phê thơm nức mũi. Mùi cà phê, mùi rau thơm, mùi xào nấu đồ ăn dạt về cấu xe anh. Cơn thèm lan tới mùi dầu thơm quen thuộc vợ anh vẫn xức lên tóc, mùi dầu thơm lan qua mùi tóc gây gây, quyện đến mùi thịt da nồng nàn. Anh bỗng nhớ cái mềm mại của làn da, cái mượt mà của dòng tóc, tiếng thì thào bên tai, tiếng xuýt xoa nho nhỏ như thoáng gió đậu trên cánh môi. Cả đến cái ấm mềm của nụ hôn. Đến những mẩy gai ốc nổi trên da sau những vuốt ve mời gọi. Anh khẽ đẩy cửa phòng của vợ, rón rén bước vào căn phòng đã lâu vắng bóng anh. Anh đứng lặng một lát cho quen với bóng tối. Lâu lắm anh không bén mảng đến phòng này. Trong bóng tối anh thấy cái máy cát sét nằm ngay ngắn trên đầu giường, chỗ trước kia là cái gối nằm của anh. Cuốn băng đang chạy. Ngọn đèn đỏ chớp đều, và anh nhận ra vợ anh đang nghe headphone. Rõ ràng vợ đang ngủ. Anh đứng lặng, nghiêng đầu  ngắm. Ánh đèn ngủ mờ ảo hằn rõ nét tiều tụy trên khuôn mặt trái xoan có đôi má hóp. Anh thở dài, thấy tội nghiệp vợ. Anh nhìn đôi bờ ngực chỉ hơi gồ lên một chút bên dưới tấm chăn mỏng. Lâu lắm anh không vùi lên đó những môi hôn. Chợt cô khẽ trở mình. Cô rên nho nhỏ. Và cô ưỡn người qua một bên, hai tay tuồi ra ngoài lớp chăn, đặt lên hai bầu vú. Anh căng tròn hai mắt. Tim anh rối lên trong lồng ngực. Cơn thèm căng cứng từng thớ thịt. Anh từ từ bước lại cạnh giường, hồi hộp như đứa con trai mới lớn mò vào giường cô gái vừa quen. Bỗng dưng anh đứng sững lại khi nghe vợ gọi tên ai đó. Anh nghiêng đầu lắng nghe tiếng rên luồn trong hơi thở của cô. Đừng Phú ơi… Hổng được đâu... Tối mai đi, Anh lộn xộn quá… Đứa nào thế này. Đứa nào chui cả vào giấc mơ của vợ anh thế này. Mặt anh nóng bừng. Và anh nhận ra ấy là cái tên mà anh đã nói đại với cô rằng đó là tên người thông dịch.

Anh nhẹ nhàng gỡ cái headphone ở tai vợ, gài vào lỗ tai mình. Anh nhận ra cái giọng trầm đục quen thuộc của người thông dịch viên ở phòng khám bác sĩ. Cái kẻ anh không buồn nhớ tên nhưng đã cho hắn mang đại tên Phú khi vợ hỏi. Người đàn ông có cái tên ấy vừa mới thì thào trong hơi thở của vợ. Giọng hắn trong headphone vẫn lúc xa như lời dặn dò mất hút ở khúc quanh, lúc gần như đang thì thầm bên gối ấm; vẫn lúc này dịu dàng, lúc kia sôi nổi; vẫn đều đều rót vào tai anh như con nước lững lờ xuôi trong dòng suối cạn: “Hãy nhắm mắt tưởng tượng mình nằm thả lỏng thân thể, duỗi hai chân, xuôi hai tay hai bên mình. Hãy hình dung bờ cát mềm và ấm bên dưới thân thể, sóng biển dạt dào chung quanh… Hãy nhắm mắt tưởng tượng từng cơn gió vuốt ve trên da thịt. Hãy hình dung có một người yêu thương mình nhất trên thế gian. Hãy tưởng tượng bàn tay mềm mại của người ấy xoa nhẹ ở những nơi cơn đau xốn xang nhất… Hãy buông thả, hãy để thân xác bồng bềnh trôi…” 
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.