Hôm nay,  

Trang Thơ tháng Hai

09/02/202315:41:00(Xem: 1970)
duythanh 3
Phóng bút của Duy Thanh.



LƯU DIỆU VÂN

 

thế kỷ của những vật tế

 

chúng ta cứ chảy ngả ngớn về phía trước như thế

nơi đàn ngỗng chẻ sóng xôn xao về vị tổng thống trò hề

cùng cô ca nhạc sĩ hoa hồng chơi ngông áo cộc không váy

kết hợp với tiếng tăm tráo trở được lộng kiếng

người đàn ông bên kia rào tìm cách thu thập tin tức

từ mặt nước mà không cần phải rót mật vào tai không khí

cô bé da trắng thả tay mẹ trượt vội xuống mũi giày

sờn đã cưu mang hơn 10,300 em bé da vàng mà tiếng

chào của anh vẫn chưa vọng đến cuối cuộc chiến

trong chiếc cầu mũ viền lông tơ hơi thở chúng ta tranh chức giáo đầu

ngoài kia những bức tường biên giới đang được xây

bằng lời bào mòn cờ hoa bị thóa mạ

vẫn trong trạng thái hành trang hơn hai thế kỷ nặng nề sự tử tế

anh gỡ chiếc vỏ bảo hộ những bạo lực ấu thơ

những vết bầm ẩn dụ kén khổ chủ trước và sau hàng cúc áo

liếm môi em như một lá thư sắp cháy cong

lịch sử chỉ là một tiếng rên phản kháng giữa đám

đông cả tin nay đã sờn trí nhớ

em dũng cảm nhất trong xiềng xích vòng tay anh chai xạm

chiến sĩ trong em muốn thay đổi những gì bất dịch

thiền sĩ trong em muốn chấp nhận những gì bất dung

xong giao dịch thịt da, em đưa tờ năm mươi đồng trả công

anh thối lại một buổi chiều nắng đầy sỏi huyết dụ

lồng bên trong những viên tuyết tầm nhiệt

trong cơn lốc nước ta nghe thoang thoảng

con người đã biết biến cái lạnh thành vũ khí đấu tranh

cho nhân quyền/ nhân cách/ nhân nghĩa

và nhân tình là vật tế hy sinh


-- Lưu Diệu Vân

*

TRẦN HẠ VI


Cho anh

Nếu kiếp trước em đã ăn lưng bát cơm anh bố thí
Thì kiếp này coi như cũng trả dứt nợ nần
Đừng nắm níu lần khân
Chúng ta hãy xem nhau
như những người chưa từng quen biết

Nhớ làm chi những đêm đông mải miết
Người tìm người,
thơ tìm thơ,
trong cơn nửa tỉnh nửa mê
Đêm em sâu quá hay ngày anh dài lê thê
Trộn vào nhau chút ẩn ức
miên mê
quẩn quanh nỗi buồn chôn giấu

Đã qua rồi chuỗi ngày xưa yêu dấu
Em hay chơi trốn tìm có lẽ chẳng vì yêu
Cơn nghiện anh cháy lòng
bao nhiêu lần
thành lũy em đổ liêu xiêu
Ồ hóa ra em nhớ anh nhiều đến vậy...

Nhưng rồi...
những gì không phải của mình đừng nên lấy
Em cũng chẳng tham chi một chút hư vinh
Cầu mong anh thắm đẹp duyên tình
Em trở lại
băng bó tim côi
xóa nhòa dĩ vãng

Mà thôi...
chắc em giận nhiều
nên nói sảng...
anh nghe!


Khúc hát tường vi

Tình yêu hát vang trên những xác người
la liệt xác tài khoản
những cái tên trong tưởng tượng
con chữ nằm chết ngổn ngang
những câu chuyện dở dang
sẽ không bao giờ kết thúc

Những gì em viết ra
như định mệnh
Kẻ chép sử túng thiếu già nua
sống dưới cây cầu bắc qua sông Seine
thế kỷ 16
quả cầu thủy tinh tiên tri
quyền năng hay gánh nặng

Em viết một trang vào đời anh
những con chữ rùng mình
níu kéo
lạnh ngắt đôi tay

sáng nay một giấc mơ đi hoang
chiếc email quên xóa dòng tên
lắc mình thành sự thật
em lắc mình biến mất


cho anh giữ chút niềm tin còn sót lại
ngăn kéo cuối cùng
giấu một đóa tường vi


Lảo đảo... em buông...


Em ngồi trong bóng tối nhập nhòa mùa đông
Cơn khát anh dâng đầy vòng tay em đắng đót
Nhớ gì đâu trái cấm tình xanh xao vàng vọt
Nhưng anh không,
chưa từng,
có lẽ....
sẽ không phải của em

Dan díu đời nhau chi chút ẩn ức lem nhem
Dẫu mình hiểu những điều chưa bao giờ được nói
Cô độc anh,
cô độc em
trong biển người đau nhói
Nhớ làm gì khi chẳng thể hạnh phúc chung

Em không phải kẻ có thể đấu tranh đi đến tận cùng
Em yếu đuối,
ừ đúng,
em vô cùng yếu đuối
Tuy không đau mỗi khi nhìn anh tiếc nuối
Tàn tích cuộc tình, em không dám cạnh tranh

Hư thực ư -
tất thảy quá mong manh
Em vụn vỡ thủy tinh không dám làm 'thỏ thí nghiệm"
Thôi xin nhận thiệt thua dẫu tim mình ngất lịm
Nhìn anh xa dần....
nắm níu chi một vòng tay!

Anh, em buông rồi!
lảo đảo em say....

-- Trần Hạ Vi

*

THY AN



Đầu năm

 

giữa cái lạnh và cái nóng bất thường

của thay đổi khí hậu kỳ cục

hàng cây già không nói

và bài thơ của tôi sinh ra từ lá cây

đầu năm dương lịch nhìn phần đời đã qua

mơ hồ trông chưa rõ cái gì sắp tới

… mong manh

 

một lời chúc một nụ cười

như khát vọng thật mềm của phần đời còn lại 

ẩn hiện qua sương mù buổi sáng

bệnh viện và những bức tường vàng

lò hỏa táng và những khuôn mặt buồn buồn

đóng khung những ký ức

… trôi tan

 

rồi buổi tối giao thừa sẫm màu

mở ra ngày đầu âm lịch

bên anh bên em một ly rượu nhỏ

im lặng vẽ những vòng tròn theo năm tháng

trên đầu ngón tay

… đàn hồi

 

từ trái tim hát lên những khúc chữ

khi ngắn khi dài như hơi thở

và giọt mưa rơi trên mái 

tiếng chân người đi lạc viễn phương

mơ mãi một ngày về như cọng rơm bên sông

… lặng lẽ

 

quỳ xuống bên vương miện chói sáng

hạt kim cương trên tóc trắng

mỉm cười cùng trăng sao bất tận

làm sao tìm ra bí ẩn cuộc sống

khát khao trái tim chờ đợi

những nhắn tin từ smartphone nhấp nháy

… vô thường

 

 

Độc thoại khi uống cà phê

 

gió không đủ độ lượng

làm mát những con đường đầy uẩn khúc

nơi tình yêu mong manh như sương

nỗi nhớ phiêu diêu trên nhánh cây tùng

tuổi thất thập buổi chiều nắng xế

 

căn nhà đầy ắp hương và hoa

cộng thêm bao phế thải của đời sống

ôi một thời vọng động

đi qua những khúc quanh ồn ào

mùa thu lá đỏ đầy tay

 

những điều tâm đắc nhất an ủi trái tim

như thì thầm của hoa và cỏ

dòng âm thanh bất tận của những sớm mai

rơi xuống vạt áo

sau những đêm thâu rối bời

 

ngồi nhìn cà phê và bóng mình

khuấy một khúc đời trong ly sóng sánh

còn điều gì trông ngóng

con đường dài độc đạo ái ngại

hơi thở dường như mệt lòng

 

đến nguyên lành và ra đi sẽ không tội lỗi?

cầm quyển sách và lật trang giấy vàng

mực đen ghi câu thơ lãng mạn

sáng tạo nào phù hoa bám riết thời gian

giấc mơ theo năm tháng phai tàn

 

cội nguồn linh hiển chợt sáng

trong đôi mắt thật hiền như cổ tích…

 

– thy an

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.