Hôm nay,  

Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời…

12/12/202500:00:00(View: 354)
Doãn Quốc Sỹ
Đoãn Quốc Sỹ, 1923-2025
Ảnh: tài liệu của Gia đình Doãn Quốc Sỹ.
Capture
 
 
 
Cụ Doãn Quốc Sỹ mất ngày 14/10/2025 và lễ tiễn biệt là ngày 1/11/2005 tại chùa Bảo Quang Santa Ana Hoa Kỳ từ rất xa xôi, chúng tôi luôn hướng về lễ phục tang của người, người chiến sĩ cầm bút, rất hiền hòa với người, với hoàn cảnh, lúc nào và suốt cả cuộc đời an nhiên tự tại, thận trọng và tri kiến: tri kiến với lòng mình và với tất cả nhân quần xã hội xung  quanh:
 
“Gương trong mình lại soi mình
 Thấy tình thăm thẳm thấy hình phù du”
 
Cụ cũng là một nhà giáo, một nhà giáo dậy dỗ và yêu mến học trò với thâm tình êm đềm và chân thực. Mà trong lễ tiễn biệt cụ thì nhà báo Nguyễn Văn Khanh đã thổ lộ… vâng, hôm lễ, rất đông người đến tưởng niệm, phục tang vì lòng quý mến, vì ân tình,  vì nghĩa nặng.
 
Cụ, đẹp cả người, đẹp cả nết, mà ai cũng thấy, nghĩ không cần nhắc lại nhiều nữa.
 
Chỉ nhắc lại câu nói của nhà báo Đ Q Anh Thái cũng đầy đủ để nói lên phong cách của cụ, “quân tử chi giao đạm nhược thủy”.
 
Chúng tôi biết cụ từ rất lâu, qua các tác phẩm nổi tiếng như bộ tiểu thuyết: Ba sinh hương lửa, Khu rừng lau, Tình yêu thánh hóa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến…
 
Chúng tôi đọc đi đọc lại rất say sưa, hâm mộ từ lúc còn học trung học. Vậy mà sau này, lớn lên, vào các trường đại học, chúng tôi mới được biết cụ Doãn bằng xương bằng thịt, khi nghe cụ giảng, nghe cụ nói xong, một anh bạn sinh viên ĐHSP đã thốt lên lời: cụ đẹp quá, đẹp từ ý nghĩ, tới ngôn từ… hèn gì! Đó là anh Nguyễn Viết Sơn, cứ nhắc lại, hèn gì!
 
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
 
Thưa tiếp theo phần định nghĩa từ dinh tê, về thành, là người nói tại sao rất nhiều trí thức đi theo phong trào kháng chiến CS, rồi lại từ bỏ về thành phố.
 
Người trình bầy rõ lý do đó, là vì cộng sản lừa dối lòng yêu nước của thanh niên ái quốc, họ gian xảo lừa dối lòng yêu nước của thanh niên ái quốc, họ gian xảo lừa bịp, miệng lưỡi để phong tỏa tình nghĩa, bóp nghẹt vật chất để đè chết bao tử nhân dân, hòng mua rẻ linh hồn. Cụ dẫn chứng nhiều trường hợp cụ thể. Tiếp theo, giờ sau đó, cụ Doãn cũng nói về thế giới tư bản ở thực dân, để đối chiếu với CS, tư bản ở thực dân, cũng do vật chất, họ đưa cái mồi vật chất ra quyến rũ để giam lỏng tinh thần yêu nước của sĩ phu.
 
Ôi thôi, thì cả hai đều thất bại cụ từ tốn đi tới kết luận, cả hai phía đều thất bại, vì linh hồn con người chỉ có thể tồn tại bên nhau, sống bên nhau bằng tình thương chơn thực với tâm từ bi và sự qua lại đối đãi cân bằng với tâm thành, yêu mình và yêu người.
 
Trong khi nói về tác phẩm “khu rừng lau” người xúc động nhấn mạnh: cách giữ gìn giang sơn tổ quốc này hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa. Sau này, vào Nam người chủ trương và đã gầy dựng nên nhóm sáng tạo nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, người là hơi thở của văn chương dân tộc, ngài là tiêu biểu của trí thức Việt Nam trong lành, nhân bản, tất cả để cấu trúc ra một con người hiền lương một quân tử.
 
“Thế đấy” ngài thuyết giảng rằng, đau khổ trong mọi hoàn cảnh mọi vướng bận, mọi nghịch cảnh… thì đau khổ và cả thất bại tự nó vô trách nhiệm, vấn đề quan trọng là sau đó, sau đau khổ, hay trong đau khổ … chúng ta phải chiêm nghiệm và học được những gì trong đau khổ để quay đầu ra! Để thoát thân và thoát tâm.
 
Lý giảng mãi thì nghe cũng nhiều rồi. Mà có một lần đó, chúng tôi, nhóm sinh viên hay la cà vẩn vơ ở cổng trường sư phạm, thì cụ Doãn đi ra từ phía trong lối cổng, lúc đó chiều chiều, nắng tắt, chúng tôi ồn ào chào thầy ạ, thầy ạ… chúng con chào thầy…
 
Cụ dừng đi, cười hiền: “này các bạn, học xong hết cours, tối, chiều rồi, các em nên về nhà đi. Đừng nấn ná ở đây, trời tối, không hay đâu… về an ninh, cướp giật… rồi ma mãnh… mấy đứa tôi hào hứng tò mò chăn thầy lại, hỏi:
 
Có ma ở đây, thiệt hả thầy…?
 
Có thiệt đấy, ma của anh Liêm… bị súng đạn lạc, hồi loạn Bình Xuyên bắn nhau ấy mà… cứ hỏi cụ Toản, cụ ấy kể rõ cho các cô nghe, cụ Toản mục kích hẳn hoi…
 
Ôi ôi, thầy Toản nói là nhảm nhí… thầy Toản không kể đâu. Tụi con xin thầy kể cho chúng con nghe đi, thầy cứ kể vắn tắt cũng được…
 
Là thế này, anh sinh viên tên Liêm, anh ấy rất chăm học, học gạo, anh ấy là con mọt sách, như là anh ấy là sinh viên bên khoa học, ngày giờ cours trong giảng đường, ăn qua loa, xong, là anh lại đọc sách, học đấy, cứ thấy một anh sinh viên dáng gầy mỏng manh, đeo kính cận, cầm một cuốn sách… vừa đi vừa đọc vừa học từ gốc cây này sang gốc cây kia ở nơi cổng trường sư phạm này là đúng anh đó đó.
 
… Thì nghe đâu, thời cụ Diệm, Bình Xuyên và quốc gia đang kịch chiến, trường đóng cửa, mà anh ta vẫn đến đây học, lúc thì quyển sách được đưa ra trước mặt, lúc ôn thì cầm sách sau lưng, hai tai chéo sau lưng, dáng người cong cong, vừa đi miệng vừa lẩm nhẩm ôn bài… là học gạo mà. Súng đạn bất kể, vẫn cứ gạo là gạo… sách cầm chéo ra sau mông… học bất kể quân thần súng đạn. Rồi oan nghiệt tới, một phát đạn nhẹ nhàng phạm trúng ngực anh, và anh mất bên quyển sách vật lý, định đề Euclide thấm đẫm máu đỏ.
 
Đã lâu lắm rồi, bao năm qua đi, nhưng oan khuất vẫn bên hàng cây này, lâu lâu anh lại về đây, cắm đầu đi đi lại lại… như gạo bài… tội nghiệp… gạo bài thiên thu…
 
Hết rồi, thôi chúng ta cùng về đi… đừng trễ quá, gặp anh Liêm tới… cũng phiền… chúng tôi cũng cuống quýt, ríu rít đi theo thầy rời khỏi cổng trường.
 
Rồi khi sau, đã thi xong, tốt nghiệp ngành… thì cũng một lần, cụ Đàm Xuân Thiều tổ chức một buổi tu nghiệp về quản trị học đường, thầy Doãn được mời tới, sau khi thầy Lưu Khôn giảng thuyết về ý nghĩa của ngành sư phạm, là cải tạo nhân tâm, mở mang trí tuệ và nâng cao văn hóa… thầy Lưu Khôn ôn hòa và trung thực khéo léo bao nhiêu, sau đó tới thầy Doãn Quốc Sỹ cũng từ tốn và rõ ràng chỉ bảo cách gần hơn để điều khiển trường lớp, thầy Doãn lo xa và ân cần khuyên cách làm sổ sách, ghi giờ dậy thêm, sổ chi thu, sổ điểm danh, sổ điểm bài các lớp… đã lâu lắm rồi, nhưng chúng tôi nhớ không lầm thì thầy Doãn chu đáo dặn là mỗi cuốn sổ nên làm hai cuốn, một cuốn để ghi chép lung tung, chi tiết khi cần thiết. Một cuốn thứ hai để ghi lại, rõ ràng sạch sẽ, trong sáng, phòng khi có cần truy tìm một rắc rối nào đó, và trình diện sẳn sàng khi thanh tra tới thanh tra. Thầy chu đáo và lo xa cho học trò.
 
Chúng tôi noi cái gương sáng cẩn thận, tận tâmchu đáo suốt đời của thầy Doãn.
 
Chúng tôi cũng thầm nghĩ trong lòng và đoán lờ mờ ra tại sao khi viết văn, ngài không lấy hay dùng một bút hiệu, một bút danh nào khác… mà cứ chung thủy lấy một cái tên duy nhất từ cha sanh mẹ đẻ là Doãn Quốc Sỹ.
 
Thưa là vậy,, sống chết là quy luật trời đất tự thiên thu. Thầy ra đi với tuổi hạc vàng đại thọ. Chúng con kính cẩn nghiêng mình và nghiêng lòng thành từ biệt… rất tiếc nuối một nhân tài Doãn Quốc Sỹ, người đã sống thành tâm, viết văn thành tâm và quan trọng hơn là nặng tình giáo dục.
 
… Chúng con… hàng hậu bối, chúng con hứa không quên ơn giáo dục và mãi mãi cố gắng nương theo ít nhiều phong cách sống quân tử, vô ưu của người:
 
“Gìn vàng giữ ngọc” cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời
A Di Đà Phật
 
Xin chân thành chia xẻ mất mát với bạn Doãn Hưng và toàn thể gia quyến.
 
Xin thành kính vọng tưởng 49 ngày của phật tử Hạnh Tuệ.
 
Paris, mùa thu 2025
Chúc Thanh

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.