Hôm nay,  

Kỷ Niệm và Tỵ Nạn

29/11/202109:16:00(Xem: 3155)
Tran Mong Tu
Cho tôi lại ngày nào

Trăng lên bằng ngọn cau
Me tôi ngồi khâu áo
Bên cây đèn dầu hao
Cha tôi ngồi xem báo
Phố xá vắng hiu hiu
Trong đêm mùa khô ráo
Tôi nghe tiếng còi tàu
- Phạm Duy


Bây giờ là tháng 6, năm dương lịch 2017. Tôi sống ở đất nước này đã 42 năm. Thời gian tôi sống ở đây, lâu hơn thời gian tôi sống ở cả hai miền Bắc, Nam cộng lại. Frank (chồng tôi) có tổ chức một buổi nói chuyện di dân với bạn bè. Anh có một nhóm bạn người Mỹ thuộc nhà thờ St. Louise, nơi chúng tôi tới dự thánh lễ hàng tuần. Nhóm bạn trên dưới mười người, họ đến nhà chúng tôi, có khi mỗi tuần, có khi một tháng hai lần tùy theo thời khóa biểu của cả nhóm.

Tuần qua theo thời sự toàn cầu, Frank mời một vài người bạn di dân, một vài người tỵ nạn như tôi, đến chia sẻ với nhau về kinh nghiệm của một người tỵ nạn. Anh có hỏi tôi là có muốn chia sẻ không? Tôi lắc đầu, tôi chỉ tham dự, ngồi nghe và sẵn sàng mời các bạn anh một bữa ăn sau buổi họp.

Tại sao tôi từ chối không nói? Tôi biết tôi dễ xúc động, khi nhắc về những hồi ức tỵ nạn trước mọi người, thế nào tôi cũng khóc.

Tháng Tư đã đi qua, nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng, nhất là tiếp theo cuối tháng 5, kỷ niệm ngày Trận Vong Chiến Sĩ. Dù có tiệc tùng hàng tuần, bận rộn cả ngày thu dọn nhà cửa, nấu nướng cho con, cháu hay mời bạn, hoặc đến nhà bạn, bao giờ cũng là thời điểm nỗi buồn xa xứ trở về với tôi. Nhớ cha mẹ, nhớ quê hương, nhớ tuổi trẻ đẹp đẽ thơ ngây ở quê nhà, nhớ những mối tình ngắn, mối tình dài đi qua trong đời mình. Tất cả những thứ đó làm tôi khóc. Kỷ niệm như viên kẹo đắng bọc đường, khi ngậm trong miệng, đắng ngọt cùng tan trên lưỡi.

Cả nửa năm nay nước Mỹ xôn xao với những tin tức liên quan đến tỵ nạn. Những tin xấu cho những người tỵ nạn bất hợp pháp (con số này không nhỏ) và làm hoang mang không ít những người hợp pháp. Cái hoang mang của chính những người cũng thuộc thành phần “tỵ nạn” như tôi. Không biết việc mình “chống” có làm tổn thương những người vô tội và việc mình “ủng hộ” có làm thêm rối việc quốc gia.

Như tuần trước, khi ở chợ ra, trời đang nắng, bỗng dưng mưa xuống, nhìn trời mưa cám cảnh xa quê, nước mắt tôi cứ ứa ra không sao cầm được, chạy vội vào trong xe ngồi, một mình thổn thức. Tự nhiên câu thơ viết năm đầu tiên đến Mỹ trở về trong đầu. Mình em một ngôn ngữ / mình em một màu da / mình em một màu mắt / mình em một lệ nhòa.

Tôi không phải là người tỵ nạn duy nhất trên đất nước này, tôi biết rất rõ như thế. Chung quanh tôi, nếu ngay lúc này, tôi níu lại một người vừa ở trong chợ bước ra, hỏi bạn từ nước nào tới, tôi sẽ gặp ngay một người tỵ nạn giống tôi.

Nước Mỹ là một nước hợp chủng và có thể nói truyền thống của họ là mở cửa đón người mọi nơi trên thế giới, bằng cách này hay cách khác đã đến định cư trên quê hương họ. Và chính cung cách mở tay đón nhận này, danh sách nhân tài trên thế giới trong mọi lãnh vực mang quốc tịch Hoa Kỳ được kể là dài nhất (mặc dù gốc của họ thuộc về nước khác.)

Mỗi một người bỏ xứ sở của mình, đến định cư trên một miền đất lạ bằng bất cứ nguyên do nào cũng mang theo bao nhiêu kỷ niệm của quê nhà với mình. Sống xa quê bao nhiêu năm, miền đất mới bao dung hay hắt hủi mình, mỗi người bằng ngọt ngào hay cay đắng đều canh cánh mang trong lòng đầy ắp ký ức của kẻ “lưu vong”.

Chị Maria một phụ nữ Mễ Tây Cơ nói, năm đó chị 16 tuổi, chị sang Mỹ qua đường vượt biên không chính thức, chị được nhét lên một chiếc xe ca, phải đợi 17 năm mới được hợp thức hóa và có giấy tờ cư trú hợp pháp.

Trong 17 năm đó chị sống trong một tình trạng bấp bênh, mặc dù một thời gian sau, chị xin được số An Sinh, chị đi làm, chị đóng thuế, nhưng chị vẫn chưa có thẻ xanh. Chị vẫn là người sống bên lề Xã Hội. Chị mới được thẻ xanh năm ngoái, và chị đã trở về quê nhà một lần thăm mẹ và bà ngoại.

Chị nói khi cầm tấm thẻ xanh trên tay, chị bật khóc. Chị nói thêm, tôi không thể nào quên được cái cảm xúc này, cái kỷ niệm này sẽ theo tôi suốt đời.

Một người khác nói, anh sanh ở Mỹ, nhưng cha mẹ anh là người gốc Canada. Thỉnh thoảng anh cũng theo cha mẹ về Canada thăm họ hàng, nhưng anh không có một chút gì quyến luyến với xứ sở đó khi anh chia tay. Anh có sống ở đó ngày nào của thời thơ dại đâu mà có kỷ niệm. Kỷ niệm tuổi thơ của anh là ở nơi này. Các ngôi trường anh đi qua, để lại trên sân trường dấu giầy, cái bóng tuổi thơ hắt xuống trên bãi cỏ của những trận bóng chày, bóng rổ. Những thành phố gia đình anh cư trú, những liên hệ thâm giao với nhà hàng xóm, rồi mối tình đầu thời mới lớn. Anh kết luận: Đây mới đích thực là quê hương tôi nhưng thật tình trong thâm tâm tôi vẫn nhớ ông nội, ông ngoại của mình là người Gia Nã Đại.

Một người bạn gốc Đức ở tuổi 80 cho biết gia đình anh sang Mỹ từ thời ông nội của anh. Nghĩa là cách đây cả thế kỷ. Vợ anh cũng là người Đức, sang Mỹ từ năm lên 6. Hồi còn cha mẹ, anh có nói một ít câu tiếng Đức ở nhà, bây giờ thì quên hết hoàn toàn, vì không có dịp thực hành. Anh nói, trong cuộc sống hàng ngày, tôi quên hẳn tôi là người Đức, mặc dù tôi chưa bị Alzheimer. Nhưng nếu có ai hỏi tôi về gốc gác của tôi, thì tôi sẵn sàng kể lể cội nguồn, gốc gác mình.

Nước Mỹ có tên là Hiệp Chủng Quốc quả không sai. Những người cư ngụ trên đất này tùy theo ở vào tuổi nào họ tới để họ có thể hòa mình vào thổ ngơi phong tục, văn hóa được bao nhiêu. Càng hòa đồng được nhiều họ càng thấy gắn bó, bén rễ với phần đất này.

Những đứa trẻ lớn lên đầy ắp kỷ niệm với thành phố với trường học, với bạn bè, làm sao mà bắt nó phải tìm về một nơi khác được, nhất là nơi nó chưa được biết bao giờ. Nếu cha mẹ nhắc nhở từ nhỏ, rồi dẫn dắt tìm về, thì đó là tìm về nguồn gốc của tổ tiên chứ không phải tìm về kỷ niệm.

Kỷ niệm là những gì đáng ghi nhớ người ta đã có trong quá khứ, chứ không phải là điều người ta tưởng tượng ra.

Những cha mẹ lưu vong này mang con về thăm quê, cho con học tiếng nước mình, dậy con văn hóa, sử, địa của quê hương mình. Nhiều đứa trẻ lớn lên biết yêu mến tha thiết với nguồn gốc của ông bà, cha mẹ, nhưng chúng cũng lớn lên với kỷ niệm tuổi thơ của vùng đất chúng trưởng thành.

Sức mạnh của kỷ niệm khuyến khích chúng vững mạnh tiến tới tương lai trước mặt.

Trong nhà chúng tôi ngồi quây quần nói chuyện, những cánh cửa sổ mở rộng ra vườn sau, một đàn chim không biết từ đâu kéo tới chúng ríu rít vang cả sân. Tiếng gọi nhau tràn cả vào buồng đang họp mặt, đến nỗi mọi người phải ngưng nói, nhìn ra ngoài sân. Những con chim tìm về vườn cũ, chúng tìm về kỷ niệm. Chúng xa vườn lâu quá rồi.

Bao giờ tôi mới lại trở về quê? Tôi nghe tiếng đập cánh của chúng lao xao trong lồng ngực xa xứ của mình.


Trần Mộng Tú

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.