Hôm nay,  

Thương Nhớ Mười Hai

06/02/202010:28:00(Xem: 2710)

Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.


“Thương Nhớ Mười Hai”, tức là niềm thương nhớ, xúc cảm của tác giả trong mười hai tháng Âm lịch, xúc cảm của “những người thiên lý tương tư” khi vào miền Nam vẫn nhớ nhung về phương Bắc. Tác giả ghi lại tâm tư mình với những cung bậc tuyệt vời của người Hà nội, người xứ Bắc thanh lịch nỗi tiếng một thời xa xưa liên quan tới cây lành trái ngọt của vùng miền qua từng tháng.

Có một điều, người viết muốn chia xẻ với bạn đọc là chúng ta không có tháng Một, và cũng không có tháng Mười Hai, mà chỉ có tháng Giêng, và tháng Chạp như trong ca dao :


Tháng Chạp là tháng trồng khoai.

Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.


Tháng Chạp, tháng Giêng quá đặc sắc, dễ thương, như : “Ra Giêng anh cưới em”, hay “Tháng Chạp anh về quê ngoại”..v..v..


“Thương Nhớ Mười Hai” của chúng tôi là nỗi niềm trong tháng 12/2019 này đây. Tháng Mười Hai với những kỷ niệm đầy vơi trong cuộc đời lao đao, chìm nổi của một người không còn trẻ nữa. Tháng Mười Hai Dương lịch với ngày Lễ Giáng Sinh rộn ràng, và ngày Tết Dương lịch bắt đầu cho một năm mới. Trẻ nhỏ thêm một tuổi lớn, và người già đăm chiêu thêm một tuổi già.


Đầu tháng Mười Hai, ngày 07/12/2019, chúng tôi mất đi người huynh trưởng của chương mục Viết Về Nước Mỹ : Anh Nguyễn Văn Tân, bút hiệu Bồ Tùng Ma. Ông là người nhiều tuổi nhất trong nhóm Việt Bút chúng tôi, và cũng là người ít lời nhất. Ông ít cười. Một bạn trẻ nói với ông :


-Chú Ma, sao chú lại không cười vui khi chụp ảnh với nhóm. Chú cứ coi cô SL kìa, lúc nào cũng cười tươi như đang còn tuổi thanh xuân !


Ông trả lời :


-Tại chú cười không đẹp như cô SL.


Một câu chuyện nhỏ, nhưng đó là một kỷ niệm lớn trong lòng tôi đối với anh Tân.


Vẫn biết rằng “Sống gửi thác về”, nhưng sự ra đi của ông cũng gieo trong lòng tôi nhiều sự xao xuyến. Rất nhiều tháng ông ở trong bệnh viện trong trạng thái coma, vì ông bị stroke nặng. Chúng tôi vẫn thầm bảo nhau “sợ ông không qua khỏi”. Dù tinh thần đã chuẩn bị, ý thức đã sẵn sàng, nhưng khi được tin ông giã từ, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, tiếc nuối. Một văn hữu trẻ đã có bài thơ “Tiễn Anh” :


Phũi sạch nợ duyên, kiếp vô thường

Về miền Cực Lạc, cõi Tây Phương

Anh đi, bao kẻ sầu, đau, tiếc

Người ở trăm chiều mộng, nhớ, thương


Thong dong rồi bước trần gian khổ

An lạc dừng chân chốn Niết Bàn

Thân ái chào Anh lìa cõi tạm

Bằng hữu nghiêng mình bên khói hương.

(B.T)


Chúng tôi đã “thân ái chào Anh”, và “nghiêng mình tưởng niệm” Anh. Dù Anh không còn trên trần thế này, nhưng ở thế giới nào khác, chúng tôi ước mong Anh mãi yên vui. Chúng tôi chào Anh, người huynh trưởng đáng yêu, người bạn văn đầm ấm, và trên hết, một người lính Việt nam Cộng hòa suốt đời giữ gìn được bản chất tốt đẹp của người sĩ quan Hải quân trong chiến tranh nghiệt ngã.


Cũng trong ngày hôm sau 08/12, gia đình chúng tôi trân trọng kỷ niệm ngày mất của Mẹ tôi, Người đã rời xa chúng tôi đã sáu năm nay. Kỷ niệm ngày giỗ của Bà năm nay, chúng tôi về chùa Giác Lâm ở thành phố Philadelphia – Pennsylvania, cúng dường Tam bảo, hồi hướng ân phước cho Bà. Chúng tôi không tổ chức nghi thức rườm rà, chỉ có hoa, trái, và cúng cơm chay. Chúng tôi nghĩ rằng Mẹ chúng tôi đã về Trời, vì lúc còn trên cõi tạm này, Bà là người phụ nữ rất đổi hiền dịu, không làm điều gì phật ý một ai. Mẹ tôi sống thọ ở tuổi chín mươi ba, đó là ơn phước từ Trời đã ban cho chúng tôi. Tôi chỉ có một thoáng ân hận vì hoàn cảnh phải bỏ Mẹ mà đi dong ruỗi xứ người thoắt đã gần ba mươi năm, và lúc Bà đi tôi đã thương cảm viết ra hai câu đối để thờ :


Một chuyến đi xa, Má đã yên vui miền Tiên cảnh

Bao lần đứng lại, con còn lận đận với nhân gian.


Cũng trong tháng Mười Hai này, ngày 17/12 là ngày kỷ niệm bốn mươi lăm năm nghĩa chồng tình vợ của chúng tôi. Ngày 17/12/1974 chúng tôi cưới nhau, và chỉ bốn tháng sau, miền Nam mất, và tháng 6/1975 chồng tôi bị tóm vào trại cải tạo. Ngày xưa khi Từ Hải chia tay Thúy Kiều, văn hào Nguyễn Du đã viết hai câu thơ nỗi tiếng :


Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)


Đó là hoàn cảnh của chúng tôi. Cám ơn Trời, Phật, chồng tôi đã trở về Saigon sau gần mười năm biệt xứ. Trong thời gian xa cách đó, thỉnh thoảng mẹ anh ấy cứ nói với tôi :


-Bây giờ đã hơn năm năm rồi, không biết sự thể ra sao, tuổi xuân của con thì có hạn, nếu có ai ý hợp tâm đầu, con có thể bước thêm bước nữa!


Tôi choáng váng với câu nói đó của mẹ chồng. Bà không “đón gió” đâu, tôi biết vậy, vì bà là người miền Nam, rất hiền lành, chất phác, cả đời không ra khỏi nhà gia đình chồng, có thể nói không ra tới chợ của địa phương nữa mà…Tôi không nói gì, chỉ cười nhẹ, không trả lời câu nói của bà. Tôi làm sao làm được điều bà nói, vì bên nách còn có đứa con gái thật dễ thương năm tuổi. 

Khi anh vào trại tập trung, tôi đã mang bầu gần sáu tháng. Phải chăng đứa nhỏ là sợi dây vô hình cột chặt tình cảm của hai vợ chồng tôi!!? Hơn nữa, tôi là cô giáo, được lớn lên trong một gia đình lễ nghi, phép tắc, không thể đi dọc về ngang.

Sinh thời, trong vấn đề hôn nhân của các con, ba tôi thường nói :


-Ba cho chọn chứ không cho đổi.


Tức là ba tôi chủ trương không có việc thay chồng đổi vợ. Điều này quá khó trong thời đại bây giờ ở các nước phương Tây, và ngay cả ở trong nước. Cám ơn cuộc đời! anh em chúng tôi bây giờ cũng đã già, và đã làm đúng với mong muốn của ba tôi, dù trong đời sống vợ chồng làm sao tránh khỏi va chạm, xích mích, chẳng hài lòng về nhau? Có lẽ nhờ ân đức của cha mẹ, chúng tôi chẳng giàu có gì đâu, nhưng vẫn bình an trong đời thường có nhau. Ba tôi mất đã lâu, nhưng dáng hình, lời dạy dỗ của ông vẫn còn hiện hữu trong tâm trí các con. Trong bài thơ ngắn nói về ba, có đoạn tôi đã viết :


…Ba gieo nhân đức cho nhân thế

Để lại bình an cho các con.



Bây giờ đọc giả cho phép tôi nói một chút về “lão gia của tôi”.

Chúng tôi gọi chồng là “lão gia” là vừa có chút châm biếm, giễu cợt, vừa có chút trân trọng theo kiểu phim Tàu ngày xưa. 

Lão gia của tôi đã bảy mươi ba tuổi rồi, nhiều bệnh, đã nghỉ hưu từ ba năm nay. Cả ngày ông chỉ quanh quẫn vườn sau sân trước, chăm bón cây cảnh trong  những ngày Hè. Mùa Đông lạnh dữ dội, ông chỉ tiêu khiển bằng cách đi tập Gym. Vì tôi phàn nàn cái bụng nước lèo nên ông lo tập tành mỗi ngày vài tiếng đồng hồ. Than ôi ! người đi bên cạnh cuộc đời mình ngày xưa đẹp trai, oai phong, bây giờ rệu rã vì bệnh tật, vì tuổi già! Cuộc đời như đại dương mà mỗi người chúng ta chỉ giống là chiếc thuyền nan, biết đâu là bến bờ, biết nông sâu thế nào mà dò trong, lóng đục ? Những cặp vợ chồng già như chúng tôi họa hoằn lắm mới được ở chung với con, cháu, còn đa số ở riêng nương tựa nhau mà sống cho “qua ngày, chờ ngày.. qua đời”


Thưa Quý bạn đọc,

Tôi không bi quan đâu, vì tôi nhận ra rằng chúng tôi đang có bonus từ Thượng Đế nên ngày nào còn yên vui là ngày ấy cảm ơn cuộc đời này. Làm sao chúng ta biết được ngày mai !!?? (No-body knows tomorrow).

Tình yêu không còn hực hỡ như tuổi thanh xuân, nhưng còn là tình nghĩa, là sự trông cậy, nương tựa lẫn nhau. Tôi giống như đang ở trong chiếc thuyền nan giữa biển lớn, mưa gió bất kỳ, tôi làm sao giữ nỗi tay chèo !!??

Đã nói rằng tôi đã buông bỏ hết mọi ước mơ thì chưa đúng lắm. Tôi vẫn còn mơ ước bên kia bờ đại dương quê hương Việt nam có được Độc lập, dân mình có được Tự do, nhưng biết đến bao giờ !!??


Tháng Mười Hai Dương lịch ở miền Đông Bắc này, mùa Đông thật khắc nghiệt. Thời tiết lạnh lẽo. bầu trời u ám, mưa dầm. Nhiệt độ có khi xuống 0oF. Mấy hôm nay sáng sớm 17o. Gió lạnh buốt, nhưng có đôi ngày cũng có chút nắng mong manh.

Với cảm xúc về mùa Đông giá lạnh nơi đất khách quê người này, xen lẫn với tình thương yêu vô bờ bến đối với các em tôi, dâng ngập tự đáy tim, tôi đã cảm tác một bài thơ để ghi lại tình cảm chan chứa này với hai câu kết thật ưu ái :


…Vào Đông lạnh cả đất đất trời

Gửi em chút nắng thay lời cảm ơn.

(Có Em – SL. 2006)

 

 Sự ấm áp đó là những ngày phép của đứa cháu từ Base Huachuca-Arizona trở về nhà sau gần một năm ở quân trường. Cháu trai này tiếp tục bước chân của cha chú thời xa xưa, trở thành người sĩ quan của Quân lực Hoa Kỳ.


Thời gian qua nhanh như giòng thác đỗ. Ngày gia đình chúng tôi rời Saigon, chú nhóc này chỉ vừa tròn tháng tuổi. Mới đó cháu tôi đã gần ba mươi tuổi đời. Trong quân phục ngày về thăm nhà, tôi không kìm được nỗi xúc động khi gặp cháu mình.

Tôi xúc động vì hình ảnh người lính Việt nam Cộng hòa năm mươi năm trước của anh tôi, các anh, các bạn của tôi, của chồng tôi nay lại được tái hiện ở thế hệ thứ hai là đứa cháu ngày nào tôi ẵm ngữa trên tay, lúc bịn rịn giã từ mọi người theo chồng đến xứ người :


Lịch sử bây giờ đang lập lại

Giữa miền Đông Bắc xứ Cờ Hoa.


Đúng vậy, hình ảnh người lính Mỹ gốc Việt luôn là niềm hãnh diện, nỗi xúc động âm thầm trong tâm hồn tôi. Cháu tôi đang nói lời “Thank you America” cho cả gia đình tôi, đang ở Mỹ cũng như những người thân còn ở lại quê nhà.


Tháng Mười Hai với đèn, hoa ngập lối, với hàng triệu trái tim hớn hỡ đón chờ ngày Chúa Giáng Sinh. Đây là ngày Lễ của thế giới, không chỉ là của các tín đồ Thiên Chúa :


Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người Thiện tâm.


Lời của Chúa Jesus mãi còn đọng lại trong trái tim già nua, héo hắt của tôi, bây giờ, và mãi mãi : “Ta đi, ta để lại Bình an cho các con”.


Ngày Lễ Giáng Sinh là ngày của Bình An, đầm ấm, sum họp. Đó cũng là ngày Lễ của Tha thứ, Chia sẻ, Cảm thông để người, và người biết thương nhau, dẹp bỏ hết những ganh ghét, tị hiềm. Đây là ngày Lễ của con tim mở rộng chào đón Chúa giáng trần, chào đón tình yêu của nhân loại.


Tháng Mười Hai sẽ qua, năm mới Dương lịch 2020 sẽ đến. Chúng ta chờ mong những điều May mắn, Tốt đẹp cho hòa bình thế giới, trong đó có nền dân chủ, tự do cho nhân dân Việt nam.

Ngày tháng sẽ trôi xuôi. Hiện tại sẽ trở thành quá khứ. Tất cả rồi sẽ trở thành kỷ niệm. Ký ức của mỗi con người cảm nhận về tháng Mười Hai ; tháng cuối cùng của một năm ; với những vui buồn, hồi ức, nhớ nhung, tưởng niệm. Người viết chỉ mong được san sẻ chút lòng bâng khuâng trong mùa Đông lạnh giá đến sững sờ.


Vui buồn trong tháng Mười Hai sẽ khép lại như cánh màn nhung sau buổi diễn, và sân ga cuối cùng của cuộc đời người già như chúng tôi đang thấp thoáng đằng kia. Con tàu đêm sẽ đến sân ga đó, giờ khắc không bao giờ báo trước với một ai !


Với tất cả lòng yêu thương, và quí trọng, người viết xin được phép thân chúc mọi người trên thế giới được Bình An, đầm ấm mùa Giáng Sinh, và năm mới 2020, với những tin vui mới về chính trị, kinh tế trong xã hội loài người tràn trề tình thương yêu.


Cuối bài, xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Vũ Bằng với “Thương Nhớ Mười Hai” của ông, đã là nguồn cảm hứng cho người viết trong tháng Mười Hai 2019 với  “..Những buổi mây chiều gió sớm, sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều..” (1).


(1) Trích trong “Thương Nhớ Mười Hai” Vũ Bằng.



Song Lam.

Mùa Giáng Sinh.

Cherry Hill-NJ, Tháng 12/2019.         


    

 

Ý kiến bạn đọc
07/02/202017:59:16
Khách
Đọc bài này xong thấy buồn, bâng khuâng. Viết rất hay. Cám ơn bạn, Song Lam.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mẹ đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ mẹ, nhà thơ Trần Thanh Quang gửi tiếng lòng vào một trong những bài thơ dành cho mẹ đầy xúc động. Bài thơ có tựa chỉ một tiếng Mẹ nhưng gói gắm cả bầu trời tâm sự của người con. Anh đã chọn thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải thi ý, nghe giai điệu vọng về như tiếng ru của mẹ thuở nào!...
Một ơn phước lớn lắm, mẹ lẩm bẩm. Mỗi sáng, cứ coi như là “thức dậy” sau một đêm không hề chợp mắt, mẹ tự hỏi tối hôm nay mình sẽ ngủ được không, hay vẫn cứ chong mắt để không làm gì...
Căn nhà cũ. Chắc cũng gần năm chục tuổi. Sát bìa một khu rừng, trong một thị trấn lưa thưa bóng người. Chủ nhà đăng bảng bán biết bao lâu nhưng chẳng ai mua. Lúc ấy tôi đang có việc làm, lại thích cái tĩnh lặng huyền bí của khu rừng phía sau nhà nên đồng ý mua ngay. Thị trấn ấy vô cùng nhỏ bé. Một con đường chính viền hàng cây phong với vài ba ngã tư đèn xanh đèn đỏ. Từ đó mọc lan ra những con đường nhỏ, quanh co vào những khu xóm thưa người. Vì vậy khu rừng sau nhà là nơi tôi lui tới thường xuyên. Một tấm bảng với hai chữ “Dead End” gắn trên cây cột gỗ chôn ở bìa rừng. Một lối mòn vắt trên cỏ dại, bò quanh co giữa những tàng cây cao và bụi rậm với dây leo chằng chịt. Tôi thường mò mẫm một mình trên lối mòn ấy cho đến khi đám dây leo vắt ngang, chặn mất lối đi và cỏ dại xóa hết lối mòn. Dọc lối mòn quanh co ấy, thỉnh thoảng có một tảng đá nằm trơ trọi giữa cỏ cây rậm rạp, như thể ai đó đặt sẵn chỗ nghỉ chân cho những kẻ rong chơi. Và rải rác đó đây một loài hoa lạ. Loài hoa có bốn cán
Đời người không bình lặng mà luôn dậy sóng, lắm khi mưa lũ bão bùng, một khi nó đi qua thì ta mới thấy, mới thưởng thức được nét đẹp của hồ thu, của lá vàng bay lượn khắp nơi.
Trần Trọng Tâm sinh trưởng tại thành phố Quy Nhơn. Anh tốt nghiệp Đại Học sư phạm lý năm 1980 (anh là bạn học của anh rể tôi). Anh được bổ nhiệm vào dạy học ở Bình Chánh. Anh dạy tốt, kiến thức vững, nghệ thuật truyền đạt dễ hiểu. Phụ huynh học sinh rất quý anh! Ngoài giờ dạy anh thường ra uống cà phê ở quán bác Xuyến gần trường...
Sáu chị em chúng tôi vẫn chưa tưởng tượng được mình đã xa Ba Mạ, anh Lam và Kanh Kem, xa thật xa. Quê hương xa lắc, xa lơ bên kia bờ đại dương. Chừ mới thấm, thế nào là cây xa cội, nước xa nguồn. Anh chị Hải Điền và cu Nam đón chúng tôi ở phi trường Düsseldorf. Mừng mừng, tủi tủi...
Thằng Tường uống một ngụm bia, bọt bia trắng viền trên miệng nó thành một viền tròn. Nó đã bắt đầu ngà ngà say. Để chiếc ly xuống bàn chuếnh choáng, nó vung tay nói...
Tiếng tụng kinh đều đều, vừa tai nhẹ nhàng quen thuộc của chồng tôi ở phòng bên vọng ra làm tôi cảm thấy tâm hồn mình thêm bình an; đứng lên bước ra ngoài hàng hiên của căn airbnb ở tầng thứ 10 cao nhất của building mà chúng tôi được các con mướn cho một tuần lễ nghỉ hè mừng ngày sinh nhật đám cưới 40 năm của chúng tôi, cả tâm hồn theo dòng thác chảy rào rạt kỷ niệm xa xưa…
Ông làm bí thơ, quyền lực trùm một phương, ở triều đình hay ngoài châu quận đều đứng trên vạn người trong thiên hạ. Người ta vẫn bảo ông làm vua một cõi, điều này chẳng phải nói điêu mà thật sự như vậy! Lời bàn tán cũng đến tai ông, ông không nói năng gì nhưng tỏ vẻ hài lòng và mặc nhiên cho là thế. Ông chẳng phải là nhân viên công quyền mà chỉ là người đứng đầu một bang phái nhưng quyền hành của ông phủ khắp, mọi việc lớn nhỏ đều do ông định đoạt, mọi chức vụ cao thấp do ông đặt để...
Trung úy Nguyễn Thanh Long, đã hy sinh 1972 ở Núi dài Châu Đốc. Anh tốt nghiệp Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt. Cùng khóa của anh nhiều người cũng đã hy sinh trong cuộc chiến tranh khốc liệt...
Ở cái xứ sở u Tây này cũng có quá nhiều tự do, thành ra cuộc sống có lúc thành bất cập, công đoàn ra sức nhiều lần đình công, yêu sách này kia, đòi tăng lương, đòi làm ít thời giờ hơn, đòi nghỉ hưu sớm v.v… nhất là công đoàn CGT vận chuyển công cộng người đi làm việc như métro, RER, tramway, bus…
Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tư Tưởng ghé ngang hậu cứ, dẫn ba thằng em: Bắc Hà, Th/úy Trọng và tui đi nhậu ở quán Thuỷ Tiên, gần Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn ngày xưa, trước khi dời vô Phi trường Vĩnh Long...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.