Hôm nay,  

Thương Nhớ Mười Hai

06/02/202010:28:00(Xem: 4026)

Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.


“Thương Nhớ Mười Hai”, tức là niềm thương nhớ, xúc cảm của tác giả trong mười hai tháng Âm lịch, xúc cảm của “những người thiên lý tương tư” khi vào miền Nam vẫn nhớ nhung về phương Bắc. Tác giả ghi lại tâm tư mình với những cung bậc tuyệt vời của người Hà nội, người xứ Bắc thanh lịch nỗi tiếng một thời xa xưa liên quan tới cây lành trái ngọt của vùng miền qua từng tháng.

Có một điều, người viết muốn chia xẻ với bạn đọc là chúng ta không có tháng Một, và cũng không có tháng Mười Hai, mà chỉ có tháng Giêng, và tháng Chạp như trong ca dao :


Tháng Chạp là tháng trồng khoai.

Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.


Tháng Chạp, tháng Giêng quá đặc sắc, dễ thương, như : “Ra Giêng anh cưới em”, hay “Tháng Chạp anh về quê ngoại”..v..v..


“Thương Nhớ Mười Hai” của chúng tôi là nỗi niềm trong tháng 12/2019 này đây. Tháng Mười Hai với những kỷ niệm đầy vơi trong cuộc đời lao đao, chìm nổi của một người không còn trẻ nữa. Tháng Mười Hai Dương lịch với ngày Lễ Giáng Sinh rộn ràng, và ngày Tết Dương lịch bắt đầu cho một năm mới. Trẻ nhỏ thêm một tuổi lớn, và người già đăm chiêu thêm một tuổi già.


Đầu tháng Mười Hai, ngày 07/12/2019, chúng tôi mất đi người huynh trưởng của chương mục Viết Về Nước Mỹ : Anh Nguyễn Văn Tân, bút hiệu Bồ Tùng Ma. Ông là người nhiều tuổi nhất trong nhóm Việt Bút chúng tôi, và cũng là người ít lời nhất. Ông ít cười. Một bạn trẻ nói với ông :


-Chú Ma, sao chú lại không cười vui khi chụp ảnh với nhóm. Chú cứ coi cô SL kìa, lúc nào cũng cười tươi như đang còn tuổi thanh xuân !


Ông trả lời :


-Tại chú cười không đẹp như cô SL.


Một câu chuyện nhỏ, nhưng đó là một kỷ niệm lớn trong lòng tôi đối với anh Tân.


Vẫn biết rằng “Sống gửi thác về”, nhưng sự ra đi của ông cũng gieo trong lòng tôi nhiều sự xao xuyến. Rất nhiều tháng ông ở trong bệnh viện trong trạng thái coma, vì ông bị stroke nặng. Chúng tôi vẫn thầm bảo nhau “sợ ông không qua khỏi”. Dù tinh thần đã chuẩn bị, ý thức đã sẵn sàng, nhưng khi được tin ông giã từ, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, tiếc nuối. Một văn hữu trẻ đã có bài thơ “Tiễn Anh” :


Phũi sạch nợ duyên, kiếp vô thường

Về miền Cực Lạc, cõi Tây Phương

Anh đi, bao kẻ sầu, đau, tiếc

Người ở trăm chiều mộng, nhớ, thương


Thong dong rồi bước trần gian khổ

An lạc dừng chân chốn Niết Bàn

Thân ái chào Anh lìa cõi tạm

Bằng hữu nghiêng mình bên khói hương.

(B.T)


Chúng tôi đã “thân ái chào Anh”, và “nghiêng mình tưởng niệm” Anh. Dù Anh không còn trên trần thế này, nhưng ở thế giới nào khác, chúng tôi ước mong Anh mãi yên vui. Chúng tôi chào Anh, người huynh trưởng đáng yêu, người bạn văn đầm ấm, và trên hết, một người lính Việt nam Cộng hòa suốt đời giữ gìn được bản chất tốt đẹp của người sĩ quan Hải quân trong chiến tranh nghiệt ngã.


Cũng trong ngày hôm sau 08/12, gia đình chúng tôi trân trọng kỷ niệm ngày mất của Mẹ tôi, Người đã rời xa chúng tôi đã sáu năm nay. Kỷ niệm ngày giỗ của Bà năm nay, chúng tôi về chùa Giác Lâm ở thành phố Philadelphia – Pennsylvania, cúng dường Tam bảo, hồi hướng ân phước cho Bà. Chúng tôi không tổ chức nghi thức rườm rà, chỉ có hoa, trái, và cúng cơm chay. Chúng tôi nghĩ rằng Mẹ chúng tôi đã về Trời, vì lúc còn trên cõi tạm này, Bà là người phụ nữ rất đổi hiền dịu, không làm điều gì phật ý một ai. Mẹ tôi sống thọ ở tuổi chín mươi ba, đó là ơn phước từ Trời đã ban cho chúng tôi. Tôi chỉ có một thoáng ân hận vì hoàn cảnh phải bỏ Mẹ mà đi dong ruỗi xứ người thoắt đã gần ba mươi năm, và lúc Bà đi tôi đã thương cảm viết ra hai câu đối để thờ :


Một chuyến đi xa, Má đã yên vui miền Tiên cảnh

Bao lần đứng lại, con còn lận đận với nhân gian.


Cũng trong tháng Mười Hai này, ngày 17/12 là ngày kỷ niệm bốn mươi lăm năm nghĩa chồng tình vợ của chúng tôi. Ngày 17/12/1974 chúng tôi cưới nhau, và chỉ bốn tháng sau, miền Nam mất, và tháng 6/1975 chồng tôi bị tóm vào trại cải tạo. Ngày xưa khi Từ Hải chia tay Thúy Kiều, văn hào Nguyễn Du đã viết hai câu thơ nỗi tiếng :


Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)


Đó là hoàn cảnh của chúng tôi. Cám ơn Trời, Phật, chồng tôi đã trở về Saigon sau gần mười năm biệt xứ. Trong thời gian xa cách đó, thỉnh thoảng mẹ anh ấy cứ nói với tôi :


-Bây giờ đã hơn năm năm rồi, không biết sự thể ra sao, tuổi xuân của con thì có hạn, nếu có ai ý hợp tâm đầu, con có thể bước thêm bước nữa!


Tôi choáng váng với câu nói đó của mẹ chồng. Bà không “đón gió” đâu, tôi biết vậy, vì bà là người miền Nam, rất hiền lành, chất phác, cả đời không ra khỏi nhà gia đình chồng, có thể nói không ra tới chợ của địa phương nữa mà…Tôi không nói gì, chỉ cười nhẹ, không trả lời câu nói của bà. Tôi làm sao làm được điều bà nói, vì bên nách còn có đứa con gái thật dễ thương năm tuổi. 

Khi anh vào trại tập trung, tôi đã mang bầu gần sáu tháng. Phải chăng đứa nhỏ là sợi dây vô hình cột chặt tình cảm của hai vợ chồng tôi!!? Hơn nữa, tôi là cô giáo, được lớn lên trong một gia đình lễ nghi, phép tắc, không thể đi dọc về ngang.

Sinh thời, trong vấn đề hôn nhân của các con, ba tôi thường nói :


-Ba cho chọn chứ không cho đổi.


Tức là ba tôi chủ trương không có việc thay chồng đổi vợ. Điều này quá khó trong thời đại bây giờ ở các nước phương Tây, và ngay cả ở trong nước. Cám ơn cuộc đời! anh em chúng tôi bây giờ cũng đã già, và đã làm đúng với mong muốn của ba tôi, dù trong đời sống vợ chồng làm sao tránh khỏi va chạm, xích mích, chẳng hài lòng về nhau? Có lẽ nhờ ân đức của cha mẹ, chúng tôi chẳng giàu có gì đâu, nhưng vẫn bình an trong đời thường có nhau. Ba tôi mất đã lâu, nhưng dáng hình, lời dạy dỗ của ông vẫn còn hiện hữu trong tâm trí các con. Trong bài thơ ngắn nói về ba, có đoạn tôi đã viết :


…Ba gieo nhân đức cho nhân thế

Để lại bình an cho các con.



Bây giờ đọc giả cho phép tôi nói một chút về “lão gia của tôi”.

Chúng tôi gọi chồng là “lão gia” là vừa có chút châm biếm, giễu cợt, vừa có chút trân trọng theo kiểu phim Tàu ngày xưa. 

Lão gia của tôi đã bảy mươi ba tuổi rồi, nhiều bệnh, đã nghỉ hưu từ ba năm nay. Cả ngày ông chỉ quanh quẫn vườn sau sân trước, chăm bón cây cảnh trong  những ngày Hè. Mùa Đông lạnh dữ dội, ông chỉ tiêu khiển bằng cách đi tập Gym. Vì tôi phàn nàn cái bụng nước lèo nên ông lo tập tành mỗi ngày vài tiếng đồng hồ. Than ôi ! người đi bên cạnh cuộc đời mình ngày xưa đẹp trai, oai phong, bây giờ rệu rã vì bệnh tật, vì tuổi già! Cuộc đời như đại dương mà mỗi người chúng ta chỉ giống là chiếc thuyền nan, biết đâu là bến bờ, biết nông sâu thế nào mà dò trong, lóng đục ? Những cặp vợ chồng già như chúng tôi họa hoằn lắm mới được ở chung với con, cháu, còn đa số ở riêng nương tựa nhau mà sống cho “qua ngày, chờ ngày.. qua đời”


Thưa Quý bạn đọc,

Tôi không bi quan đâu, vì tôi nhận ra rằng chúng tôi đang có bonus từ Thượng Đế nên ngày nào còn yên vui là ngày ấy cảm ơn cuộc đời này. Làm sao chúng ta biết được ngày mai !!?? (No-body knows tomorrow).

Tình yêu không còn hực hỡ như tuổi thanh xuân, nhưng còn là tình nghĩa, là sự trông cậy, nương tựa lẫn nhau. Tôi giống như đang ở trong chiếc thuyền nan giữa biển lớn, mưa gió bất kỳ, tôi làm sao giữ nỗi tay chèo !!??

Đã nói rằng tôi đã buông bỏ hết mọi ước mơ thì chưa đúng lắm. Tôi vẫn còn mơ ước bên kia bờ đại dương quê hương Việt nam có được Độc lập, dân mình có được Tự do, nhưng biết đến bao giờ !!??


Tháng Mười Hai Dương lịch ở miền Đông Bắc này, mùa Đông thật khắc nghiệt. Thời tiết lạnh lẽo. bầu trời u ám, mưa dầm. Nhiệt độ có khi xuống 0oF. Mấy hôm nay sáng sớm 17o. Gió lạnh buốt, nhưng có đôi ngày cũng có chút nắng mong manh.

Với cảm xúc về mùa Đông giá lạnh nơi đất khách quê người này, xen lẫn với tình thương yêu vô bờ bến đối với các em tôi, dâng ngập tự đáy tim, tôi đã cảm tác một bài thơ để ghi lại tình cảm chan chứa này với hai câu kết thật ưu ái :


…Vào Đông lạnh cả đất đất trời

Gửi em chút nắng thay lời cảm ơn.

(Có Em – SL. 2006)

 

 Sự ấm áp đó là những ngày phép của đứa cháu từ Base Huachuca-Arizona trở về nhà sau gần một năm ở quân trường. Cháu trai này tiếp tục bước chân của cha chú thời xa xưa, trở thành người sĩ quan của Quân lực Hoa Kỳ.


Thời gian qua nhanh như giòng thác đỗ. Ngày gia đình chúng tôi rời Saigon, chú nhóc này chỉ vừa tròn tháng tuổi. Mới đó cháu tôi đã gần ba mươi tuổi đời. Trong quân phục ngày về thăm nhà, tôi không kìm được nỗi xúc động khi gặp cháu mình.

Tôi xúc động vì hình ảnh người lính Việt nam Cộng hòa năm mươi năm trước của anh tôi, các anh, các bạn của tôi, của chồng tôi nay lại được tái hiện ở thế hệ thứ hai là đứa cháu ngày nào tôi ẵm ngữa trên tay, lúc bịn rịn giã từ mọi người theo chồng đến xứ người :


Lịch sử bây giờ đang lập lại

Giữa miền Đông Bắc xứ Cờ Hoa.


Đúng vậy, hình ảnh người lính Mỹ gốc Việt luôn là niềm hãnh diện, nỗi xúc động âm thầm trong tâm hồn tôi. Cháu tôi đang nói lời “Thank you America” cho cả gia đình tôi, đang ở Mỹ cũng như những người thân còn ở lại quê nhà.


Tháng Mười Hai với đèn, hoa ngập lối, với hàng triệu trái tim hớn hỡ đón chờ ngày Chúa Giáng Sinh. Đây là ngày Lễ của thế giới, không chỉ là của các tín đồ Thiên Chúa :


Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người Thiện tâm.


Lời của Chúa Jesus mãi còn đọng lại trong trái tim già nua, héo hắt của tôi, bây giờ, và mãi mãi : “Ta đi, ta để lại Bình an cho các con”.


Ngày Lễ Giáng Sinh là ngày của Bình An, đầm ấm, sum họp. Đó cũng là ngày Lễ của Tha thứ, Chia sẻ, Cảm thông để người, và người biết thương nhau, dẹp bỏ hết những ganh ghét, tị hiềm. Đây là ngày Lễ của con tim mở rộng chào đón Chúa giáng trần, chào đón tình yêu của nhân loại.


Tháng Mười Hai sẽ qua, năm mới Dương lịch 2020 sẽ đến. Chúng ta chờ mong những điều May mắn, Tốt đẹp cho hòa bình thế giới, trong đó có nền dân chủ, tự do cho nhân dân Việt nam.

Ngày tháng sẽ trôi xuôi. Hiện tại sẽ trở thành quá khứ. Tất cả rồi sẽ trở thành kỷ niệm. Ký ức của mỗi con người cảm nhận về tháng Mười Hai ; tháng cuối cùng của một năm ; với những vui buồn, hồi ức, nhớ nhung, tưởng niệm. Người viết chỉ mong được san sẻ chút lòng bâng khuâng trong mùa Đông lạnh giá đến sững sờ.


Vui buồn trong tháng Mười Hai sẽ khép lại như cánh màn nhung sau buổi diễn, và sân ga cuối cùng của cuộc đời người già như chúng tôi đang thấp thoáng đằng kia. Con tàu đêm sẽ đến sân ga đó, giờ khắc không bao giờ báo trước với một ai !


Với tất cả lòng yêu thương, và quí trọng, người viết xin được phép thân chúc mọi người trên thế giới được Bình An, đầm ấm mùa Giáng Sinh, và năm mới 2020, với những tin vui mới về chính trị, kinh tế trong xã hội loài người tràn trề tình thương yêu.


Cuối bài, xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Vũ Bằng với “Thương Nhớ Mười Hai” của ông, đã là nguồn cảm hứng cho người viết trong tháng Mười Hai 2019 với  “..Những buổi mây chiều gió sớm, sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều..” (1).


(1) Trích trong “Thương Nhớ Mười Hai” Vũ Bằng.



Song Lam.

Mùa Giáng Sinh.

Cherry Hill-NJ, Tháng 12/2019.         


    

 

Ý kiến bạn đọc
07/02/202017:59:16
Khách
Đọc bài này xong thấy buồn, bâng khuâng. Viết rất hay. Cám ơn bạn, Song Lam.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.