Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Thanksgiving; Tạ Ơn Anh: Người Chiến Sĩ Vô Danh

28/11/200900:00:00(Xem: 4183)

Thanksgiving; Tạ Ơn Anh: Người Chiến Sĩ Vô Danh

Vào nhà dưỡng lão hát cho các cụ dịp lễ Tạ Ơn.


Chân Quê
Hằng năm tại Hoa-Kỳ cứ vào mỗi thứ năm, tuần lễ cuối cùng của tháng 11; chúng ta có ngày Lễ gọi là Thanksgiving  (Lễ Tạ-Ơn).  Tại sao lại có ngày Lễ đáng yêu này"
Theo sử liệu nước Mỹ thì truyền-thống của ngày Lễ Thanksgiving là do những người Anh quốc thuộc giáo-phái Tin-Lành Thanh-Giáo di dân đến Tân-Thế-Giới từ năm 1620 để tránh nạn đàn áp tôn-giáo.  Họ bỏ sang Hòa-Lan rồi sau đó đến châu Mỹ trên con tàu mang tên “May Flower”.  Những người di dân đầu tiên ấy là người “Pilgrims”, họ đến được vùng “Plymouth Rock” vào ngày 11 tháng 12, năm 1620.  Tại đây họ phải trải qua một mùa đông băng giá khắc nghiệt, đã có đến 46 người trong số 102 người di-dân trên con tàu “May flower” bị thiệt mạng.
Nhưng kể từ năm 1621, người “Pilgrims” may mắn dược dân da đỏ bản xứ tốt bụng giúp đỡ cung cấp lương thực; đồng thời chỉ dẫn cách thức canh tác, trồng trọt hầu mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn tại miền đất hứa.  Từ đó những người di dân đầu tiên đã thâu hoạch được mùa màng canh tác khả quan. 
Cũng trong thời gian này có đến 91 người da đỏ bản xứ châu Mỹ với 56 người “Pilgrims” sống sót cùng làm một buổi Lễ an-táng cho những người đã khuất.  Sau đó họ làm một buổi Lễ vô cùng long trọng để Tạ-Ơn Thượng-Đế.
Thức ăn trong buổi Lễ Tạ-Ơn đầu tiên này (The First Thanksgiving) rất khiêm tốn vì đã từ lâu họ không còn bột mì nên không có bánh mì hay bất cứ các loại bánh nào khác; họ phải dùng bột Ngô và Bí đỏ để làm bánh (Pumpkin Pie).  Lúc bấy giờ họ cũng không có Sữa, Bơ hoặc Khoai-tây.  Bữa tiệc Tạ-Ơn đầu tiên gồm có các loại Cá, thịt Nai, Nghêu, Tôm-hùm, Trái-cây khô, các loại Dâu tươi (Berries).
Mãi cho đến năm 1676, Hội-Đồng-Dân-Cử của Thị-Trấn Charlestown Massachusetts đã quyết-định chọn ngày 29 tháng 6 làm ngày Lễ Tạ-Ơn.  Một trăm năm sau, vào khoảng tháng 10 năm 1777.  Cả 13 thuộc-địa của Hoa-Kỳ cùng nhau cử hành ngày Lễ Tạ-Ơn lần đầu.  Tổng-Thống George Washington đã tuyên xưng ngày Lễ Thanksgiving vào năm 1789.
Sau đó có một Ký-gỉả báo chí tên Sarah Josepha Hale đã dồn nhiều nỗ lực để viết về các tài-liệu đặc biệt cho ngày Lễ Tạ-Ơn trong quyển “Boston Ladies’s Magazine” và quyển “Godey’s Lady’s Book”.  Cũng nhờ vào các cuộc vận động không ngừng của báo-chí thời bấy giờ, bằng cách gửi thư-từ cùng các văn-bản đệ trình lên Thống-Đốc cùng Tổng-Thống đương thời nên 40 năm sau  (tính từ thời kỳ vận động của ký-giả Sarah Josepha Hale) vào năm 1863 Tổng-Thống Lincoln mới chọn ngày thứ Năm của tuần lễ cuối tháng 11 làm ngày Lễ Tạ-Ơn (Thanksgiving) cho toàn quốc.
Thời gian sau đó ngày Thanksgiving cũng đã thay đổi đôi lần bởi ông Franklin Roosevelt nhưng cuối cùng vào năm 1941, Quốc-Hội-Liên-Bang Hoa-Kỳ đã ra luật chọn ngày thứ Năm thuộc tuần lễ thứ Tư của tháng 11 Dương-Lịch hằng năm làm ngày nghỉ Lễ Thanksgiving (Holiday) chính thức cho đến bây giờ.


Ai trong chúng ta cũng có thể nhận biết được con người dù sinh ra ở bất cứ nơi nào trên trái đất, họ cũng đều có Tổ, có Tông.  Giống như nước có Nguồn, cây có Cội.  Truyền thống cao đẹp của người Việt-Nam từ ngàn xưa đến nay đều tin có một Đấng tối cao trên hết đó là Trời.  Đạo thờ Trời của người Việt-Nam cũng nhằm giúp con người bé nhỏ chúng ta có dịp Tạ-Ơn Đấng đã tạo thành vũ-trụ vô biên, Đấng đã tạo nên loài người.  Con đường thờ phượng ấy đã dẫn lối cho người Việt-Nam biết Tạ-Ơn Tổ-Tiên, Ông-Bà, nhất là hai Đấng Phụ-Mẫu sinh thành: Mẹ và Cha yêu dấu.  Lòng Tạ-Ơn của người Việt-Nam không chỉ thể hiện trong những dịp Lễ mà là từng giây, từng phút, từng giờ trong mỗi một ngày của cuộc sống và ngay cả lúc Tổ-Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh-Chị, Họ-Hàng, Thân-Tộc khi đã khuất núi thì những người còn sống vẫn bắt buộc phải làm Lễ Giỗ hằng năm, như một truyền thống cao quý bất diệt của Phong-Tục Việt-Nam.
Một nghịch-lý không thể phủ-nhận là ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống đời thường, ngoài những hạnh-phúc niềm vui hay tiếng cười giữa quan-hệ con Người với Người:  vẫn thấp thoáng những giọt nước mắt khổ đau hay muộn phiền khắc khoải, lo âu, cùng vô vàn lòng trắc ẩn hay tệ bạc hơn là sự cay-nghiệt của dòng đời mà chúng ta chắc hẳn ai cũng đã có lần phải trải qua. 
Với chúng tôi, mỗi một sớm mai thức giấc nhìn thấy mặt Trời là một ngày được sấp mình Tạ-Ơn Thượng-Đế, Tạ-Ơn Vạn-Vật, Vũ-Trụ, nhất là được Tạ-Ơn con Người.  Từ Cụ già đến Bé thơ, tình thân đến những người chúng tôi chưa bao giờ quen biết như trong các “Nursing-Home” ở quận Cam, nơi  mà “Chân Quê” vẫn đến sinh-hoạt thiện-nguyện bằng hình thức Âm-Nhạc mỗi cuối tuần suốt hơn chín năm qua.  Như những người bất hạnh neo đơn, bệnh hoạn, tàn tật, cùi hủi, ăn mày, những Thương-Phế-Binh Cựu Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa… tận cùng nhất bên quê nhà mà chúng tôi được nhiều cơ may thường xuyên trở về chia xẻ Tình-Thương; rồi phải kể đến những kẻ Trọc-Phú sang giàu, quyền hành trong xã-hội.  Chúng tôi đều Tạ-Ơn vì chính Họ đã mang cho chúng tôi đầy đủ những: Hỷ, Nộ, Ái, Ố  (niềm Vui lẫn nỗi Đau, sự Chán-nản hay Tin-yêu, tiếng Cười và nước Mắt.  Họ cũng là những Người mang cho chúng tôi Giận-hờn hoặc dậy cho chúng tôi lòng Tha-Thứ, Cảm-Thông…)
Tất cả, tất cả… Chúng tôi đều trải lòng mình ra để Tạ-Ơn hai chữ gọi là: “Con Người”.  Vì từ “Con Người”  họ đã dậy cho chúng tôi biết “Cách Sống”  và biết “Sống” rất Tình Người.
Có một niềm Tạ-Ơn mà chúng tôi luôn chôn dấu tận đáy lòng, đó là Tạ-Ơn Người chúng tôi yêu.  Người đã hy-sinh mạng sống họ cho chúng tôi.  Người đã chết cho chúng tôi được sống.  Những người Chiến-Sĩ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa và các Chiến-Sĩ Đồng-Minh Hoa-Kỳ trong chiến cuộc năm xưa.  Tạ-Ơn Anh vô vàn: NGƯỜI CHIẾN-SĨ VÔ-DANH.
Chân-Quê (Mùa Lễ Thanksgiving California)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.