Hôm nay,  

Rằm Trung Thu xa xưa

13/09/202400:00:00(Xem: 2336)

Trung Thu
Hình minh họa

Lúc xưa thật xưa, người Việt Nam ta có tục lệ bầy cỗ Trung Thu vào dịp tết trăng tròn tháng 8 âm lịch. Cỗ này thường để dành cho trẻ con, vừa vui Trung Thu, vừa ăn bánh vừa ngắm trăng tròn, sáng tỏ.
 
Thường cỗ này gồm phần lớn là bánh Trung Thu, bánh dẻo bánh nướng và rất nhiều thứ trái cây, trái cây chánh là bưởi, bưởi hồng đào ngọt và tròn xoay như một vầng trăng. Ăn bưởi xong, có thể sâu hột trái bưởi, phơi khô đi sem sém, và có thể đốt hạt bưởi từng sâu như đốt nến, đèn cầy.
 
Gọt bưởi xoay tròn, người ta có cái vỏ rỗng, có thể cuốn lại làm một cái lồng đèn, đẹp và tiết kiệm… thêm nữa giống hình ông trăng.
 
Ngoài bánh, đèn, còn có ông tiến sĩ giấy trên mâm cỗ, ý là phụ huynh mua ông tiến sĩ về để làm quà và cũng là khuyến khích các con, các cháu phải noi gương học hành chăm chỉ, đỗ đạt cho danh gia vọng tộc thành đạt như ông tiến sĩ, gọi là ông trạng nguyên.
 
Bên cạnh bánh Trung Thu, ông tiến sĩ, còn là vô số trái cây, hoa quả sung mãn, như hồng, lê, cam, nhãn, táo. Họ làm thành từng mâm trái cây trồng lên nhau, cao và đầy màu sắc, gọi là mâm ngũ quả.
 
Có những lễ hội nhân gian thì chấm giải mâm ngũ quả đẹp. Mâm ngũ quả của gia đình nào đẹp nhất được giải thưởng. giải thưởng là tiền, vàng, hay sắc chỉ ban khen.
 
 Và thời xa xưa đó, cũng có lần ông trạng Quỳnh mang mâm ngũ quả đi thi và ông đã trúng giải.
 
Nhớ lại gần đây hơn thì ông trạng Quỳnh, là khi trước năm 1975, ở Sài Gòn vẫn có một con đường rất đẹp, tọa lạc nơi trung tâm thành phố, con đường mang tên gọi là đường Cống Quỳnh. Đường đó chạy ngang cửa nhà thương Từ Dũ, nối liền đường Hồng Thập Tự tới kênh Tầu Hũ…
 
Ngày đó, chưa đi học nhiều, đã có lúc tôi ngây ngô hỏi bà nội tôi:
 
Bà ơi, tại sao lại gọi là con đường Cống Quỳnh? Bộ ở đó có nhiều cống lắm sao?
 
Bà nội tôi cười hắc hắc trước cái ngây ngô của tôi, bà nói là: không phải đường có nhiều cống, mà là ông trạng Quỳnh, ổng không đậu trạng nguyên, ổng chỉ đậu hương cống, một chức thấp hơn trạng, nên người ta kêu con đường mang tên ổng là đường Cống Quỳnh!
 
Vả lại tánh khí ổng hay châm chọc người khác, có thể ổng thíếu tí chút oai đường bệ, nhưng nếu căn cứ vào cái tài văn chương chữ nghĩa, người ta có lúc vẫn kêu là trạng Quỳnh.
 
Theo ý bà nội tôi kể lại, khi xưa ông đùa dai, tính khí khác người thường thái quá, hay chế riễu mọi người nhưng chắc ông trạng Quỳnh là người sung sướng tại ổng đã sống tự nhiên như ổng thích. Thây kệ, ai muốn kêu là trạng Quỳnh cũng ổn, ai muốn kêu là cống Quỳnh cũng êm.
 
Nhưng trong lũ con cháu chúng tôi sống vây quanh bà, mà lỡ một khi, có đứa nào ba hoa tán dóc, tán láo quá cỡ bằng trời, là bà nội đưa tay làm hiệu:
 
Thôi, đủ rồi, vừa vừa vậy chớ… bay nói cứ như trạng đấy!
 
Có lần chúng tôi tìm dở sách in “giai thoại làng nho“ ra xem ông trạng tài giỏi cỡ nào, châm biếm chọc ghẹo thế nhân cỡ nào. Thì lần đó, may quá, gặp đoạn văn tả trạng sửa soạn một mâm ngũ quả đi thi, thi ngũ quả Trung Thu vào dịp hát hội trăng rằm.
 
Đúng vậy, một lần đó trạng đi ứng thi và trạng đoan quyết là thế nào trạng cũng giật giải.
 
Thời đó (1700-1760) triều vua Lê Dụ Tôn, đồng thời của chúa Trịnh Cương, chính chúa hàng năm hay lo tổ chức thi. Chúa và bà chúa rất khó tánh, khắt khe trong cách lựa chọn mâm ngũ quả trúng giải dự thi tết Trung Thu.
 
Thời đó, Hà Nội xưa, là ở thành Thăng Long, người giầu có hay mang mâm trái cây đi thi, người ta chọn những trái đẹp và ngon như hồng dòn Thái Nguyên, lê Đông Triều, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi đào Nghệ An, cam Bố Hạ v.v…
 
Nhà nào ứng thí cũng đội tới phủ chúa mâm Ngũ quả nhiều màu, trái tươi, ngon, xếp lớp lang khéo léo. Riêng ông trạng thì đi tay không, ông chỉ cầm theo một cuộn giấy trắng và một cây quạt giấy xếp nếp, dài hơn cây quạt dân thường dùng.
 
Chẳng may năm đấy, đổi mùa và chúa bị cảm, chúa sợ nắng, sợ gió lùa, chúa chỉ ngồi sau màn che trướng rủ, nhưng bên cạnh chúa, hiện diện bà chánh cung, bà phụ với chúa một phần làm chủ khảo.
 
Vào cuộc thi, mọi nhà lần lượt xếp hàng, đặt lễ dự thi và qua mặt hai vị giám khảo để trình thưa.
 
Đến lượt ông trạng, chúa nhìn ông, bà chánh cung của chúa cũng nhìn ông. Ông mới từ từ mở cuộn giấy cầm theo, trải rộng ra bàn thi, gọi là án thư, trước mặt hai vị giám khảo, trên bản giấy, là hình vẽ của trạng Quỳnh. Ông vẽ cái gì? Thưa, ông vẽ rất đẹp, hình ảnh một thiếu nữ khỏa thân, đẹp yêu kiều, nằm nghiêng nghiêng, một chân co, một chân duỗi thẳng, hai bàn ta úp lại dưới ngực, 10 ngón tay khép lại đan chéo vô nhau khép nép. Dưới bức tranh, ông trạng có chú thích: mâm hoa trái thi giải rằm Trung Thu!
 
Xong đâu đó, ông trạng từ tốn tiến tới trước mặt chúa và bà chánh cung, thưa:
 
Xin chúa và lệnh bà thưởng ngoạn và chấm điểm cho!
 
Chúa lừ mắt nghiêm sắc mặt hỏi:
 
Người nghĩ thế nào mà dám bảo cái bản vẽ này là mâm ngũ quả?
 
Ông trạng lặng lẽ lùi ra xa tí chút, xếp cây quạt giấy dài lại, thong dong cầm quạt chỉ từng điểm trên bức tranh, ung dung như một vị chỉ huy xác định những yếu điểm trên bản đồ hành quân quân sự:
 
Trạng Quỳnh chỉ đầu cô thiếu nữ, và nói: thưa đây là quả bưởi đào, mọng và ngọt. Tiếp đó chỉ đôi mắt đen của nàng, thưa đây là nhãn lồng ngon có tiếng. Trạng chỉ tiếp bộ ngực căng đầy, thưa đây là đào tiên, trồng từ động thiên thai. Tiếp đến hai bàn tay xinh xinh của nàng với những ngón tay búp măng, thưa đây là những trái phật thủ cao quý… và dưới cùng kia, thưa là mít ạ!
 
Chúa đang ốm cũng bật cười ra tiếng.
 
Bà chánh cung, thì chán nản cánh đàn ông, bà cật vấn:
 
Trời ơi, ngỡ trạng cho xem trò gì ghê gớm mới mẻ, chớ cái thứ ngũ quả này thì nữ nhân nào mà không có.
 
Trạng lùi ra xa hơn chút nữa, trổ tài biện bác:
 
Tâu lệnh bà, tục ngữ có câu, người năm bẩy đấng, của năm bẩy loài. Đâu phải người nào cũng giống người nào. Có bậc anh hùng nữ lưu như bà Trưng bà Triệu, có những bậc hiếu hạnh tài trí… và cũng có những kẻ ăn hại, người trần mắt thịt, tầm thường vô số, thì đem gánh đổ ra sông ra biển không hết.
 
… Và thưa lệnh bà, cây trái thì cũng vậy, bẩm bưởi là có bưởi ngọt bưởi chua; đào có đào điếc, đào thơm,  đào lộn hột… nhãn có nhãn lồng nhãn khô. Mít, có mít mật, mít sơ, mít dai, mít đặc, mít ước, mít tố nữ… xin lệnh bà chấm kỹ cho, mâm ngũ quả của thần mang dự thí đây toàn là của quý!
 
Trạng cứ thao thao tán tỉnh, bà chánh cung vụt hỏi:
 
Như ta đây, trạng xếp vào hạng người nào?
 
Tâu lệnh bà, cứ nhan sắc và cử chỉ của lệnh bà, lệnh bà thuộc hàng khuynh quốc khuynh thành, nết na như Tây Thi nước Việt.
 
Bà chánh cung có vẻ xúc động trước vẻ xu nịnh, nhưng lại cũng yên trí là mình có sắc đẹp, có nết na thiệt.
 
Chúa thấy lệnh bà ngồi im cảm động, chúa liền phán cho trạng Quỳnh một câu:
 
Này, nếu mà mâm ngũ quả này của trạng mà là đồ thiệt, thì ta chấm ngay cho giải hoa khôi.
 
Lệnh bà thấy ghét cái thứ đàn ông ham vui, muốn đẩy cái bản vẽ của Quỳnh xuống đất, nhưng trạng lanh tay để nguyên lại chỗ cũ và trổ tài tán tỉnh:
 
Bẩm chúa, bẩm lệnh bà, nếu cái mâm ngũ quả của thần đây mà là đồ thiệt; có thể sờ được, dùng được, ăn được… thì giá trị của nó đâu có lâu bền. Những thứ ăn được, ăn ngon, ăn no mà vào nhà cao sang như phủ chúa, phủ lệnh bà thì ăn vài lần chán ngay!
 
Còn cái mâm ngũ quả bản vẽ này của thần là vô cùng quý giá, không sợ héo úa, không sợ phai tàn hay ung thối… nó vĩnh viễn với thời gian. Nó có thể ăn lúc no, ngắm lúc đói. Cả nhà, cả phủ, cả họ dùng và thưởng lãm hoài hoài không hề suy xuyển.
 
Khải lệnh chúa, khải lệnh bà, vì nó mang cái tính chất siêu vượt thời gian, không gian tới vô hạn đó mà thần mới dám đem trình thi nơi phủ chúa… còn chuyện được thua, chỉ là nhiên hậu.
 
Lệnh bà không hiểu lắm, thí sinh đang nói hươu nói vượn gì gì…  bà chợt nhớ, lúc nãy, ông trạng có liệt bà vào loại khuynh quốc khuynh thành như Tây Thi. Bà chợt đắc ý, chợt mỉm cười sung sướng.
 
Chúa Trịnh Cương mệt rồi, thấy lệnh bà cười và nhác thấy bức vẽ cũng rất đẹp… chúa liền đồng ý cho trạng quỳnh thắng giải, và ngài không quên buông thõng một câu:
“Nhà ngươi đúng là Trạng!“
 
Phỏng theo “Cống Quỳnh“ trang 91 giai thoại
làng nho của tác giả Phùng Tất Đắc.
 
Trung Thu 2024
Chúc Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.