Hôm nay,  

Rằm Trung Thu xa xưa

13/09/202400:00:00(Xem: 2341)

Trung Thu
Hình minh họa

Lúc xưa thật xưa, người Việt Nam ta có tục lệ bầy cỗ Trung Thu vào dịp tết trăng tròn tháng 8 âm lịch. Cỗ này thường để dành cho trẻ con, vừa vui Trung Thu, vừa ăn bánh vừa ngắm trăng tròn, sáng tỏ.
 
Thường cỗ này gồm phần lớn là bánh Trung Thu, bánh dẻo bánh nướng và rất nhiều thứ trái cây, trái cây chánh là bưởi, bưởi hồng đào ngọt và tròn xoay như một vầng trăng. Ăn bưởi xong, có thể sâu hột trái bưởi, phơi khô đi sem sém, và có thể đốt hạt bưởi từng sâu như đốt nến, đèn cầy.
 
Gọt bưởi xoay tròn, người ta có cái vỏ rỗng, có thể cuốn lại làm một cái lồng đèn, đẹp và tiết kiệm… thêm nữa giống hình ông trăng.
 
Ngoài bánh, đèn, còn có ông tiến sĩ giấy trên mâm cỗ, ý là phụ huynh mua ông tiến sĩ về để làm quà và cũng là khuyến khích các con, các cháu phải noi gương học hành chăm chỉ, đỗ đạt cho danh gia vọng tộc thành đạt như ông tiến sĩ, gọi là ông trạng nguyên.
 
Bên cạnh bánh Trung Thu, ông tiến sĩ, còn là vô số trái cây, hoa quả sung mãn, như hồng, lê, cam, nhãn, táo. Họ làm thành từng mâm trái cây trồng lên nhau, cao và đầy màu sắc, gọi là mâm ngũ quả.
 
Có những lễ hội nhân gian thì chấm giải mâm ngũ quả đẹp. Mâm ngũ quả của gia đình nào đẹp nhất được giải thưởng. giải thưởng là tiền, vàng, hay sắc chỉ ban khen.
 
 Và thời xa xưa đó, cũng có lần ông trạng Quỳnh mang mâm ngũ quả đi thi và ông đã trúng giải.
 
Nhớ lại gần đây hơn thì ông trạng Quỳnh, là khi trước năm 1975, ở Sài Gòn vẫn có một con đường rất đẹp, tọa lạc nơi trung tâm thành phố, con đường mang tên gọi là đường Cống Quỳnh. Đường đó chạy ngang cửa nhà thương Từ Dũ, nối liền đường Hồng Thập Tự tới kênh Tầu Hũ…
 
Ngày đó, chưa đi học nhiều, đã có lúc tôi ngây ngô hỏi bà nội tôi:
 
Bà ơi, tại sao lại gọi là con đường Cống Quỳnh? Bộ ở đó có nhiều cống lắm sao?
 
Bà nội tôi cười hắc hắc trước cái ngây ngô của tôi, bà nói là: không phải đường có nhiều cống, mà là ông trạng Quỳnh, ổng không đậu trạng nguyên, ổng chỉ đậu hương cống, một chức thấp hơn trạng, nên người ta kêu con đường mang tên ổng là đường Cống Quỳnh!
 
Vả lại tánh khí ổng hay châm chọc người khác, có thể ổng thíếu tí chút oai đường bệ, nhưng nếu căn cứ vào cái tài văn chương chữ nghĩa, người ta có lúc vẫn kêu là trạng Quỳnh.
 
Theo ý bà nội tôi kể lại, khi xưa ông đùa dai, tính khí khác người thường thái quá, hay chế riễu mọi người nhưng chắc ông trạng Quỳnh là người sung sướng tại ổng đã sống tự nhiên như ổng thích. Thây kệ, ai muốn kêu là trạng Quỳnh cũng ổn, ai muốn kêu là cống Quỳnh cũng êm.
 
Nhưng trong lũ con cháu chúng tôi sống vây quanh bà, mà lỡ một khi, có đứa nào ba hoa tán dóc, tán láo quá cỡ bằng trời, là bà nội đưa tay làm hiệu:
 
Thôi, đủ rồi, vừa vừa vậy chớ… bay nói cứ như trạng đấy!
 
Có lần chúng tôi tìm dở sách in “giai thoại làng nho“ ra xem ông trạng tài giỏi cỡ nào, châm biếm chọc ghẹo thế nhân cỡ nào. Thì lần đó, may quá, gặp đoạn văn tả trạng sửa soạn một mâm ngũ quả đi thi, thi ngũ quả Trung Thu vào dịp hát hội trăng rằm.
 
Đúng vậy, một lần đó trạng đi ứng thi và trạng đoan quyết là thế nào trạng cũng giật giải.
 
Thời đó (1700-1760) triều vua Lê Dụ Tôn, đồng thời của chúa Trịnh Cương, chính chúa hàng năm hay lo tổ chức thi. Chúa và bà chúa rất khó tánh, khắt khe trong cách lựa chọn mâm ngũ quả trúng giải dự thi tết Trung Thu.
 
Thời đó, Hà Nội xưa, là ở thành Thăng Long, người giầu có hay mang mâm trái cây đi thi, người ta chọn những trái đẹp và ngon như hồng dòn Thái Nguyên, lê Đông Triều, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi đào Nghệ An, cam Bố Hạ v.v…
 
Nhà nào ứng thí cũng đội tới phủ chúa mâm Ngũ quả nhiều màu, trái tươi, ngon, xếp lớp lang khéo léo. Riêng ông trạng thì đi tay không, ông chỉ cầm theo một cuộn giấy trắng và một cây quạt giấy xếp nếp, dài hơn cây quạt dân thường dùng.
 
Chẳng may năm đấy, đổi mùa và chúa bị cảm, chúa sợ nắng, sợ gió lùa, chúa chỉ ngồi sau màn che trướng rủ, nhưng bên cạnh chúa, hiện diện bà chánh cung, bà phụ với chúa một phần làm chủ khảo.
 
Vào cuộc thi, mọi nhà lần lượt xếp hàng, đặt lễ dự thi và qua mặt hai vị giám khảo để trình thưa.
 
Đến lượt ông trạng, chúa nhìn ông, bà chánh cung của chúa cũng nhìn ông. Ông mới từ từ mở cuộn giấy cầm theo, trải rộng ra bàn thi, gọi là án thư, trước mặt hai vị giám khảo, trên bản giấy, là hình vẽ của trạng Quỳnh. Ông vẽ cái gì? Thưa, ông vẽ rất đẹp, hình ảnh một thiếu nữ khỏa thân, đẹp yêu kiều, nằm nghiêng nghiêng, một chân co, một chân duỗi thẳng, hai bàn ta úp lại dưới ngực, 10 ngón tay khép lại đan chéo vô nhau khép nép. Dưới bức tranh, ông trạng có chú thích: mâm hoa trái thi giải rằm Trung Thu!
 
Xong đâu đó, ông trạng từ tốn tiến tới trước mặt chúa và bà chánh cung, thưa:
 
Xin chúa và lệnh bà thưởng ngoạn và chấm điểm cho!
 
Chúa lừ mắt nghiêm sắc mặt hỏi:
 
Người nghĩ thế nào mà dám bảo cái bản vẽ này là mâm ngũ quả?
 
Ông trạng lặng lẽ lùi ra xa tí chút, xếp cây quạt giấy dài lại, thong dong cầm quạt chỉ từng điểm trên bức tranh, ung dung như một vị chỉ huy xác định những yếu điểm trên bản đồ hành quân quân sự:
 
Trạng Quỳnh chỉ đầu cô thiếu nữ, và nói: thưa đây là quả bưởi đào, mọng và ngọt. Tiếp đó chỉ đôi mắt đen của nàng, thưa đây là nhãn lồng ngon có tiếng. Trạng chỉ tiếp bộ ngực căng đầy, thưa đây là đào tiên, trồng từ động thiên thai. Tiếp đến hai bàn tay xinh xinh của nàng với những ngón tay búp măng, thưa đây là những trái phật thủ cao quý… và dưới cùng kia, thưa là mít ạ!
 
Chúa đang ốm cũng bật cười ra tiếng.
 
Bà chánh cung, thì chán nản cánh đàn ông, bà cật vấn:
 
Trời ơi, ngỡ trạng cho xem trò gì ghê gớm mới mẻ, chớ cái thứ ngũ quả này thì nữ nhân nào mà không có.
 
Trạng lùi ra xa hơn chút nữa, trổ tài biện bác:
 
Tâu lệnh bà, tục ngữ có câu, người năm bẩy đấng, của năm bẩy loài. Đâu phải người nào cũng giống người nào. Có bậc anh hùng nữ lưu như bà Trưng bà Triệu, có những bậc hiếu hạnh tài trí… và cũng có những kẻ ăn hại, người trần mắt thịt, tầm thường vô số, thì đem gánh đổ ra sông ra biển không hết.
 
… Và thưa lệnh bà, cây trái thì cũng vậy, bẩm bưởi là có bưởi ngọt bưởi chua; đào có đào điếc, đào thơm,  đào lộn hột… nhãn có nhãn lồng nhãn khô. Mít, có mít mật, mít sơ, mít dai, mít đặc, mít ước, mít tố nữ… xin lệnh bà chấm kỹ cho, mâm ngũ quả của thần mang dự thí đây toàn là của quý!
 
Trạng cứ thao thao tán tỉnh, bà chánh cung vụt hỏi:
 
Như ta đây, trạng xếp vào hạng người nào?
 
Tâu lệnh bà, cứ nhan sắc và cử chỉ của lệnh bà, lệnh bà thuộc hàng khuynh quốc khuynh thành, nết na như Tây Thi nước Việt.
 
Bà chánh cung có vẻ xúc động trước vẻ xu nịnh, nhưng lại cũng yên trí là mình có sắc đẹp, có nết na thiệt.
 
Chúa thấy lệnh bà ngồi im cảm động, chúa liền phán cho trạng Quỳnh một câu:
 
Này, nếu mà mâm ngũ quả này của trạng mà là đồ thiệt, thì ta chấm ngay cho giải hoa khôi.
 
Lệnh bà thấy ghét cái thứ đàn ông ham vui, muốn đẩy cái bản vẽ của Quỳnh xuống đất, nhưng trạng lanh tay để nguyên lại chỗ cũ và trổ tài tán tỉnh:
 
Bẩm chúa, bẩm lệnh bà, nếu cái mâm ngũ quả của thần đây mà là đồ thiệt; có thể sờ được, dùng được, ăn được… thì giá trị của nó đâu có lâu bền. Những thứ ăn được, ăn ngon, ăn no mà vào nhà cao sang như phủ chúa, phủ lệnh bà thì ăn vài lần chán ngay!
 
Còn cái mâm ngũ quả bản vẽ này của thần là vô cùng quý giá, không sợ héo úa, không sợ phai tàn hay ung thối… nó vĩnh viễn với thời gian. Nó có thể ăn lúc no, ngắm lúc đói. Cả nhà, cả phủ, cả họ dùng và thưởng lãm hoài hoài không hề suy xuyển.
 
Khải lệnh chúa, khải lệnh bà, vì nó mang cái tính chất siêu vượt thời gian, không gian tới vô hạn đó mà thần mới dám đem trình thi nơi phủ chúa… còn chuyện được thua, chỉ là nhiên hậu.
 
Lệnh bà không hiểu lắm, thí sinh đang nói hươu nói vượn gì gì…  bà chợt nhớ, lúc nãy, ông trạng có liệt bà vào loại khuynh quốc khuynh thành như Tây Thi. Bà chợt đắc ý, chợt mỉm cười sung sướng.
 
Chúa Trịnh Cương mệt rồi, thấy lệnh bà cười và nhác thấy bức vẽ cũng rất đẹp… chúa liền đồng ý cho trạng quỳnh thắng giải, và ngài không quên buông thõng một câu:
“Nhà ngươi đúng là Trạng!“
 
Phỏng theo “Cống Quỳnh“ trang 91 giai thoại
làng nho của tác giả Phùng Tất Đắc.
 
Trung Thu 2024
Chúc Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.