Hôm nay,  

Giáng Sinh Này, Giáng Sinh Xưa

23/12/202321:06:00(Xem: 2281)


Cho sinh nhật ldv

Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì. Ông chỉ thấy hình ảnh những thiếu nữ áo dài trắng đứng bên hang đá, mấp máy những cánh môi hồng. Ông chôn chân trên nền nhà lót thảm. Lẩn quẩn một lúc, ông lết đôi dép qua phòng làm việc, đứng trước tủ sách, cau mày suy nghĩ. Lũ sách vở chen lấn nhau, cố ló mặt ra khỏi cái đám ngay hàng thẳng lối để ông nhìn thấy. Ông đứng lặng thinh. Ông không rút đại một cuốn ra để đọc vài câu rồi nhét vào chỗ cũ như mọi khi. Một lát, ông bỏ ra phòng ăn, ngẩn ngơ nhìn những ngăn tủ. Lũ ly chén lơ láo nhìn ông, như lũ học trò của ông ngày xưa vẫn xếp hàng trước cửa lớp đầu buổi học. Ông không nghe tiếng bọn học trò xì xào nhưng ông nghe ra được tiếng lanh canh của ly chén chạm nhau. Ông đứng bất động. Rồi ông lắc đầu. Lưng khòm. Mắt mỏi. Đầu gối run. Óc rối mù.

Ông lần ra phòng khách, nhìn cuốn lịch trên tường. Những con chữ bò lổm ngổm trên chân dung cô ca sĩ mắt to, môi mọng. Ông nheo mắt nhìn. Quái lạ! Mấy hôm trước cuốn lịch bảo ông sắp Giáng Sinh mà hôm nay – nghĩa là cả tuần lễ sau, ông nhớ loáng thoáng như thế - cũng vẫn chỉ sắp Giáng Sinh. Con số 20 và hàng chữ Tháng Mười Hai lao xao trò chuyện. Như vậy nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa là lễ Giáng Sinh. Thời gian có lướt đi hay đã đọng lại và ngủ quên trên cuốn lịch? Sắp Giáng Sinh rồi. Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng; cực kỳ quan trọng, bởi đó cũng là sinh nhật của vợ ông. Ông gõ ngón tay xương lên vầng trán nhăn như gõ cửa phòng người quản gia canh chừng trí nhớ. Và ông nhớ đã mua quà sinh nhật cùng với quà Giáng Sinh cho vợ, ông nhớ đã giấu thật kỹ để tạo bất ngờ cho bà nhưng tai họa đang chờ ông bởi ông không nhớ mình giấu món quà ấy ở đâu.

Đúng là tai họa.

Người ta gọi ông là ông già từ hồi nào ông cũng không nhớ nữa. Ban đầu ông không mấy tin, bởi ông thấy mình chưa già. Dù những thứ bệnh của người già cứ đeo dính lấy ông như lũ đỉa đói trong đầm lầy nhiệt đới. Huyết áp cao. Mỡ trong máu cao. Tiểu đường. Cườm mắt. Loãng xương. Phong thấp. Nhưng những thứ bệnh vớ vẩn ấy đến từ từ, khiến ông quen dần với chúng nó, và không còn cảm thấy bất ngờ. Có khác chăng là dạo này mọi thứ đồ vật trong nhà đua nhau chọc ghẹo ông, như cặp gối trong phòng ngủ, như lũ sách vở trên kệ, như đám ly tách trong tủ, như cái ti vi dựa vách tường. Đôi khi ông nghe được cả tiếng chúng nó cười khúc khích. 

Thì cứ cho là ông đã già với mắt nhìn kèm nhèm, tai nghe lõng bõng, nhưng ông vẫn tin là mình chưa già mấy. Bởi ông vẫn yêu thương vợ ông, yêu hơn cái thời hai mươi tuổi. Vậy là ông chưa già. Trái tim còn nguyên vẹn. Ông định nghĩa tuổi tác qua cách hành xử của trái tim. Năm nào gần Giáng Sinh ông cũng mua cho vợ vài món quà nho nhỏ, vừa để mừng lễ, vừa để tặng sinh nhật bà. Và ông nghĩ còn yêu thương được là vẫn còn rất trẻ. Điều làm ông bận tâm là dạo này trí nhớ ông hơi loạc choạc. Ông hay quên. Quên nhiều nhất là những chuyện vừa xảy ra. Đơn giản như vừa uống thuốc xong, quay đi quay lại, đã băn khoăn không biết mình đã uống thuốc chưa. Thuốc của ông lại là thứ độc hại, bỏ một ngày là thấy phiền phức ngay. Ngày nào vợ ông cũng phải nhắc ông uống thuốc. Định lục tủ kiếm quyển sách nào đó nhưng bước vào phòng làm việc, ông ngẩn ngơ không biết mình vừa định làm gì. Thật lâu sau mới sực nhớ lại là định đi tìm một cuốn sách. Nhớ được rằng mình đi tìm cuốn sách nhưng lại quên mất tên cuốn sách ban nãy muốn tìm. Cứ loanh quanh lẩn quẩn như thế mà hết ngày.

Và hôm nay cái tật hay quên làm ông cuống lên. Quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của bà ông lén đi mua về rồi ông giấu ở đâu không nhớ nữa. Biết lục ngăn nào trong trí nhớ để tìm bây giờ! Thông thường khi cần tìm cái gì đó mà không thấy thì ông hỏi bà, nhưng chuyện này làm sao mà hỏi được.

Ông đã từng tìm tòi, nghiên cứu sách vở để tìm phương thức chống lại chứng hay quên của mình. Và ông đã tìm ra được cách tốt nhất để chế ngự nó. Ông áp dụng cách ấy. Phương pháp của ông là khi định làm gì thì miệng nhắc liên tục đến việc ấy, cho đến khi làm xong. Như muốn tìm cái áo thì khi đi đến tủ áo, miệng sẽ luôn lẩm bẩm "cái áo, cái áo, cái áo." Khi tìm thấy cái áo rồi thì miệng mới thôi lẩm bẩm.

Mới hồi sáng cái tật chóng quên đã chọc ghẹo ông một cách sỗ sàng. Ấy là thời tuổi trẻ, đôi khi ông cũng có thơ đăng báo. Bây giờ không còn bận tâm với vần với điệu nữa nhưng thỉnh thoảng, bất chợt ông cũng nghĩ ra được một câu nghe như thơ, và ông quyết định lấy bút viết cái câu hay ho ấy xuống. Ông lẩm bẩm "cái bút, cái bút, cái bút" trong khi bước vào phòng làm việc để lấy bút. Nhưng rồi khi tìm được cái bút thì câu thơ trong đầu đã tan biến như vạt sương mù sớm mùa thu trên khóm lá đường phong trước nhà.

Trí nhớ của ông cứ mòn dần, và đầu óc ông nhiều lúc trôi dạt đến tận nơi nào xa lắc. Và bây giờ ông đâm ra hoang mang. Mình giấu quà cho bà ấy ở đâu. Nhà rộng, ngõ ngách lung tung, biết đâu mà tìm. Nhưng mà có khi nào năm nay chưa mua mà trí nhớ mình lẫn lộn với năm ngoái năm xưa nên cứ nghĩ là đã mua quà cho bà ấy rồi không?

Buổi tối, trước khi đi ngủ, ông đi vào phòng làm việc, miệng lẩm bẩm “mắt kính, mắt kính…” và ông loay hoay tìm mắt kính để vào giường thấy đường mà đọc sách. Không tìm ra chỗ giấu quà chắc ông sẽ chẳng thể nào ngủ được, mà không ngủ được thì đành thức đọc sách dỗ giấc chứ biết làm gì khác hơn được. Nhưng vừa bước qua cửa phòng làm việc ông đã quên bẵng đi mình phải làm gì. Vậy là ông cứ đi tới đi lui, lật cái này, đẩy cái kia để tìm và miệng vẫn lẩm nhẩm. Nhưng đầu óc không nối kết được với những chữ mà cái miệng đang lẩm bẩm. Ông không còn biết mình vào phòng để làm gì nữa.
Cứ thế. Tay lục lọi, miệng lép nhép và thỉnh thoảng ông bật lên một cơn ho và đứng sựng lại ngẩn ngơ như người mất trí.
Chờ lâu không thấy ông vào ngủ, vợ ông đi tìm.

Bà thấy ông đứng ngẩn trong phòng làm việc, miệng lẩm bẩm, mắt ngơ ngác nhìn quanh. Bà nghiêng đầu lắng nghe. Bà tập được tính kiên nhẫn từ mấy mươi năm chung sống. Bà biết ông không còn sáng suốt như thời trai trẻ. Bà đã chuẩn bị cho cái ngày hình ảnh bà nhòe đi trong trí nhớ ông, và ông ngập ngừng nhìn bà, nói với bà bằng cái giọng rụt rè quen thuộc, "Xin lỗi, bà là ai; tôi có quen bà không?"

Bà nhìn ông. Giọng ông khàn khàn. Môi ông mấp máy. Như tín đồ tụng kinh. "Mắt kính. Mắt kính. Mắt kính."

“Ông tìm cái gì thế?” Bà hỏi nhỏ. Bà không muốn ông giật mình.

Ông ngẩn người ra, “Tôi cũng không biết nữa.” Ông nói lí nhí như đứa bé bị bắt quả tang làm điều sai trái. Và miệng ông lại lẩm bẩm, “Mắt kính, mắt kính…”

“Nói chuyện với ai mà cứ lải nhải 'mắt kính, mắt kính' thế?” Bà nói.

Như nghe được câu thần chú, ông tỉnh hẳn, “Đúng rồi, bà nhắc tôi mới nhớ, tôi tìm mắt kính. Không có bà chắc tôi chết quá!”

Ông lê từng bước, tới sát bên, choàng tay lên vai bà. Bà đứng lặng. Ông kéo một cánh tay bà, vắt lên vai ông, để có một vòng ôm như những ngày hai người còn trẻ. Tình còn nở hoa. Quên gì thì quên nhưng ông vẫn nhớ những vòng ôm thời tuổi trẻ của hai người. Những vòng ôm ấm áp. Không có bà chắc tôi chết quá. Câu nói của ông làm bà cảm động. Tự dưng bà muốn khóc. Dạo này bà cũng dễ cảm động. Hơi một chút là rơi nước mắt. Thời trẻ đâu có vậy. Nhưng bà cố nén cơn xúc động.

“Tìm mắt kính làm gì?" Bà hỏi, nhìn sâu vào mắt ông. Qua lớp thủy tinh của cặp kính lão ông đeo trên mặt, đôi mắt ông hiền như mắt vị thiền sư. Bà kéo tay ông, “Vào ngủ thôi. Khuya rồi.”

Ông níu tay bà lại, “Nhưng phải tìm mắt kính, không có mắt kính làm sao đọc sách.”

Ấy là thói quen của ông. Vào giường bao giờ cũng phải đọc vài trang sách rồi mới ngủ. Hôm nay lại thêm nỗi hoang mang - không biết đã giấu quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của vợ ở đâu, hay là chưa mua mà cứ yên trí đã mua rồi. Nỗi hoang mang ấy nhằng nhịt như màng nhện dăng đầy trong óc, ông sẽ chẳng cách nào ngủ được.

“Tôi đánh mất mắt kính rồi!” Giọng ông nghe như tiếng thở dài.

“Để tôi tìm cho,” và bà đưa tay, nhẹ nhàng gỡ cặp kính lão ra khỏi mắt ông. "Đang đeo trên mắt mà còn đi tìm đâu nữa!"

Trên khuôn mặt nhăn nheo của ông nở ra một nụ cười ngây ngô. Nụ cười của đứa bé lên ba, lên bốn. Tuy nhiên nỗi băn khoăn vì những món quà thất lạc cứ xoay vòng trong óc ông như cơn lốc.

Ông đã lẫn thật rồi, bà thầm nghĩ, nhưng vẫn còn may mắn bởi ông vẫn còn nhận ra bà, người vợ của hiện tại và người tình của ba mươi mấy năm xưa. Bà níu lấy tay áo ông như thuở mới quen và nói với ông cái câu bà vẫn nói mỗi tối, “Vào ngủ sớm cho khỏe.”

Ngang qua phòng khách bà dừng lại, nhìn màn hình ti vi một lát, rồi vói tay tắt máy và lẩm bẩm, “Giáng Sinh qua cả tuần rồi mà họ vẫn chơi nhạc Giáng Sinh.”   

Ông giật mình, nghiêng đầu hỏi, “Bà nói gì?”

“Tôi nói Noel qua lâu rồi mà Ti Vi vẫn chơi nhạc Giáng Sinh… À mà cuốn sách với cái khăn quàng cổ ông tặng tôi đắt tiền quá, năm tới gom chung quà sinh nhật với quà Giáng Sinh thành một món thôi cho bớt tốn tiền ông à.”

231215

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.