Hôm nay,  

Giáng Sinh Này, Giáng Sinh Xưa

23/12/202321:06:00(Xem: 2287)


Cho sinh nhật ldv

Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì. Ông chỉ thấy hình ảnh những thiếu nữ áo dài trắng đứng bên hang đá, mấp máy những cánh môi hồng. Ông chôn chân trên nền nhà lót thảm. Lẩn quẩn một lúc, ông lết đôi dép qua phòng làm việc, đứng trước tủ sách, cau mày suy nghĩ. Lũ sách vở chen lấn nhau, cố ló mặt ra khỏi cái đám ngay hàng thẳng lối để ông nhìn thấy. Ông đứng lặng thinh. Ông không rút đại một cuốn ra để đọc vài câu rồi nhét vào chỗ cũ như mọi khi. Một lát, ông bỏ ra phòng ăn, ngẩn ngơ nhìn những ngăn tủ. Lũ ly chén lơ láo nhìn ông, như lũ học trò của ông ngày xưa vẫn xếp hàng trước cửa lớp đầu buổi học. Ông không nghe tiếng bọn học trò xì xào nhưng ông nghe ra được tiếng lanh canh của ly chén chạm nhau. Ông đứng bất động. Rồi ông lắc đầu. Lưng khòm. Mắt mỏi. Đầu gối run. Óc rối mù.

Ông lần ra phòng khách, nhìn cuốn lịch trên tường. Những con chữ bò lổm ngổm trên chân dung cô ca sĩ mắt to, môi mọng. Ông nheo mắt nhìn. Quái lạ! Mấy hôm trước cuốn lịch bảo ông sắp Giáng Sinh mà hôm nay – nghĩa là cả tuần lễ sau, ông nhớ loáng thoáng như thế - cũng vẫn chỉ sắp Giáng Sinh. Con số 20 và hàng chữ Tháng Mười Hai lao xao trò chuyện. Như vậy nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa là lễ Giáng Sinh. Thời gian có lướt đi hay đã đọng lại và ngủ quên trên cuốn lịch? Sắp Giáng Sinh rồi. Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng; cực kỳ quan trọng, bởi đó cũng là sinh nhật của vợ ông. Ông gõ ngón tay xương lên vầng trán nhăn như gõ cửa phòng người quản gia canh chừng trí nhớ. Và ông nhớ đã mua quà sinh nhật cùng với quà Giáng Sinh cho vợ, ông nhớ đã giấu thật kỹ để tạo bất ngờ cho bà nhưng tai họa đang chờ ông bởi ông không nhớ mình giấu món quà ấy ở đâu.

Đúng là tai họa.

Người ta gọi ông là ông già từ hồi nào ông cũng không nhớ nữa. Ban đầu ông không mấy tin, bởi ông thấy mình chưa già. Dù những thứ bệnh của người già cứ đeo dính lấy ông như lũ đỉa đói trong đầm lầy nhiệt đới. Huyết áp cao. Mỡ trong máu cao. Tiểu đường. Cườm mắt. Loãng xương. Phong thấp. Nhưng những thứ bệnh vớ vẩn ấy đến từ từ, khiến ông quen dần với chúng nó, và không còn cảm thấy bất ngờ. Có khác chăng là dạo này mọi thứ đồ vật trong nhà đua nhau chọc ghẹo ông, như cặp gối trong phòng ngủ, như lũ sách vở trên kệ, như đám ly tách trong tủ, như cái ti vi dựa vách tường. Đôi khi ông nghe được cả tiếng chúng nó cười khúc khích. 

Thì cứ cho là ông đã già với mắt nhìn kèm nhèm, tai nghe lõng bõng, nhưng ông vẫn tin là mình chưa già mấy. Bởi ông vẫn yêu thương vợ ông, yêu hơn cái thời hai mươi tuổi. Vậy là ông chưa già. Trái tim còn nguyên vẹn. Ông định nghĩa tuổi tác qua cách hành xử của trái tim. Năm nào gần Giáng Sinh ông cũng mua cho vợ vài món quà nho nhỏ, vừa để mừng lễ, vừa để tặng sinh nhật bà. Và ông nghĩ còn yêu thương được là vẫn còn rất trẻ. Điều làm ông bận tâm là dạo này trí nhớ ông hơi loạc choạc. Ông hay quên. Quên nhiều nhất là những chuyện vừa xảy ra. Đơn giản như vừa uống thuốc xong, quay đi quay lại, đã băn khoăn không biết mình đã uống thuốc chưa. Thuốc của ông lại là thứ độc hại, bỏ một ngày là thấy phiền phức ngay. Ngày nào vợ ông cũng phải nhắc ông uống thuốc. Định lục tủ kiếm quyển sách nào đó nhưng bước vào phòng làm việc, ông ngẩn ngơ không biết mình vừa định làm gì. Thật lâu sau mới sực nhớ lại là định đi tìm một cuốn sách. Nhớ được rằng mình đi tìm cuốn sách nhưng lại quên mất tên cuốn sách ban nãy muốn tìm. Cứ loanh quanh lẩn quẩn như thế mà hết ngày.

Và hôm nay cái tật hay quên làm ông cuống lên. Quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của bà ông lén đi mua về rồi ông giấu ở đâu không nhớ nữa. Biết lục ngăn nào trong trí nhớ để tìm bây giờ! Thông thường khi cần tìm cái gì đó mà không thấy thì ông hỏi bà, nhưng chuyện này làm sao mà hỏi được.

Ông đã từng tìm tòi, nghiên cứu sách vở để tìm phương thức chống lại chứng hay quên của mình. Và ông đã tìm ra được cách tốt nhất để chế ngự nó. Ông áp dụng cách ấy. Phương pháp của ông là khi định làm gì thì miệng nhắc liên tục đến việc ấy, cho đến khi làm xong. Như muốn tìm cái áo thì khi đi đến tủ áo, miệng sẽ luôn lẩm bẩm "cái áo, cái áo, cái áo." Khi tìm thấy cái áo rồi thì miệng mới thôi lẩm bẩm.

Mới hồi sáng cái tật chóng quên đã chọc ghẹo ông một cách sỗ sàng. Ấy là thời tuổi trẻ, đôi khi ông cũng có thơ đăng báo. Bây giờ không còn bận tâm với vần với điệu nữa nhưng thỉnh thoảng, bất chợt ông cũng nghĩ ra được một câu nghe như thơ, và ông quyết định lấy bút viết cái câu hay ho ấy xuống. Ông lẩm bẩm "cái bút, cái bút, cái bút" trong khi bước vào phòng làm việc để lấy bút. Nhưng rồi khi tìm được cái bút thì câu thơ trong đầu đã tan biến như vạt sương mù sớm mùa thu trên khóm lá đường phong trước nhà.

Trí nhớ của ông cứ mòn dần, và đầu óc ông nhiều lúc trôi dạt đến tận nơi nào xa lắc. Và bây giờ ông đâm ra hoang mang. Mình giấu quà cho bà ấy ở đâu. Nhà rộng, ngõ ngách lung tung, biết đâu mà tìm. Nhưng mà có khi nào năm nay chưa mua mà trí nhớ mình lẫn lộn với năm ngoái năm xưa nên cứ nghĩ là đã mua quà cho bà ấy rồi không?

Buổi tối, trước khi đi ngủ, ông đi vào phòng làm việc, miệng lẩm bẩm “mắt kính, mắt kính…” và ông loay hoay tìm mắt kính để vào giường thấy đường mà đọc sách. Không tìm ra chỗ giấu quà chắc ông sẽ chẳng thể nào ngủ được, mà không ngủ được thì đành thức đọc sách dỗ giấc chứ biết làm gì khác hơn được. Nhưng vừa bước qua cửa phòng làm việc ông đã quên bẵng đi mình phải làm gì. Vậy là ông cứ đi tới đi lui, lật cái này, đẩy cái kia để tìm và miệng vẫn lẩm nhẩm. Nhưng đầu óc không nối kết được với những chữ mà cái miệng đang lẩm bẩm. Ông không còn biết mình vào phòng để làm gì nữa.
Cứ thế. Tay lục lọi, miệng lép nhép và thỉnh thoảng ông bật lên một cơn ho và đứng sựng lại ngẩn ngơ như người mất trí.
Chờ lâu không thấy ông vào ngủ, vợ ông đi tìm.

Bà thấy ông đứng ngẩn trong phòng làm việc, miệng lẩm bẩm, mắt ngơ ngác nhìn quanh. Bà nghiêng đầu lắng nghe. Bà tập được tính kiên nhẫn từ mấy mươi năm chung sống. Bà biết ông không còn sáng suốt như thời trai trẻ. Bà đã chuẩn bị cho cái ngày hình ảnh bà nhòe đi trong trí nhớ ông, và ông ngập ngừng nhìn bà, nói với bà bằng cái giọng rụt rè quen thuộc, "Xin lỗi, bà là ai; tôi có quen bà không?"

Bà nhìn ông. Giọng ông khàn khàn. Môi ông mấp máy. Như tín đồ tụng kinh. "Mắt kính. Mắt kính. Mắt kính."

“Ông tìm cái gì thế?” Bà hỏi nhỏ. Bà không muốn ông giật mình.

Ông ngẩn người ra, “Tôi cũng không biết nữa.” Ông nói lí nhí như đứa bé bị bắt quả tang làm điều sai trái. Và miệng ông lại lẩm bẩm, “Mắt kính, mắt kính…”

“Nói chuyện với ai mà cứ lải nhải 'mắt kính, mắt kính' thế?” Bà nói.

Như nghe được câu thần chú, ông tỉnh hẳn, “Đúng rồi, bà nhắc tôi mới nhớ, tôi tìm mắt kính. Không có bà chắc tôi chết quá!”

Ông lê từng bước, tới sát bên, choàng tay lên vai bà. Bà đứng lặng. Ông kéo một cánh tay bà, vắt lên vai ông, để có một vòng ôm như những ngày hai người còn trẻ. Tình còn nở hoa. Quên gì thì quên nhưng ông vẫn nhớ những vòng ôm thời tuổi trẻ của hai người. Những vòng ôm ấm áp. Không có bà chắc tôi chết quá. Câu nói của ông làm bà cảm động. Tự dưng bà muốn khóc. Dạo này bà cũng dễ cảm động. Hơi một chút là rơi nước mắt. Thời trẻ đâu có vậy. Nhưng bà cố nén cơn xúc động.

“Tìm mắt kính làm gì?" Bà hỏi, nhìn sâu vào mắt ông. Qua lớp thủy tinh của cặp kính lão ông đeo trên mặt, đôi mắt ông hiền như mắt vị thiền sư. Bà kéo tay ông, “Vào ngủ thôi. Khuya rồi.”

Ông níu tay bà lại, “Nhưng phải tìm mắt kính, không có mắt kính làm sao đọc sách.”

Ấy là thói quen của ông. Vào giường bao giờ cũng phải đọc vài trang sách rồi mới ngủ. Hôm nay lại thêm nỗi hoang mang - không biết đã giấu quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của vợ ở đâu, hay là chưa mua mà cứ yên trí đã mua rồi. Nỗi hoang mang ấy nhằng nhịt như màng nhện dăng đầy trong óc, ông sẽ chẳng cách nào ngủ được.

“Tôi đánh mất mắt kính rồi!” Giọng ông nghe như tiếng thở dài.

“Để tôi tìm cho,” và bà đưa tay, nhẹ nhàng gỡ cặp kính lão ra khỏi mắt ông. "Đang đeo trên mắt mà còn đi tìm đâu nữa!"

Trên khuôn mặt nhăn nheo của ông nở ra một nụ cười ngây ngô. Nụ cười của đứa bé lên ba, lên bốn. Tuy nhiên nỗi băn khoăn vì những món quà thất lạc cứ xoay vòng trong óc ông như cơn lốc.

Ông đã lẫn thật rồi, bà thầm nghĩ, nhưng vẫn còn may mắn bởi ông vẫn còn nhận ra bà, người vợ của hiện tại và người tình của ba mươi mấy năm xưa. Bà níu lấy tay áo ông như thuở mới quen và nói với ông cái câu bà vẫn nói mỗi tối, “Vào ngủ sớm cho khỏe.”

Ngang qua phòng khách bà dừng lại, nhìn màn hình ti vi một lát, rồi vói tay tắt máy và lẩm bẩm, “Giáng Sinh qua cả tuần rồi mà họ vẫn chơi nhạc Giáng Sinh.”   

Ông giật mình, nghiêng đầu hỏi, “Bà nói gì?”

“Tôi nói Noel qua lâu rồi mà Ti Vi vẫn chơi nhạc Giáng Sinh… À mà cuốn sách với cái khăn quàng cổ ông tặng tôi đắt tiền quá, năm tới gom chung quà sinh nhật với quà Giáng Sinh thành một món thôi cho bớt tốn tiền ông à.”

231215

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.