Hôm nay,  

Giáng Sinh Này, Giáng Sinh Xưa

23/12/202321:06:00(Xem: 2285)


Cho sinh nhật ldv

Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì. Ông chỉ thấy hình ảnh những thiếu nữ áo dài trắng đứng bên hang đá, mấp máy những cánh môi hồng. Ông chôn chân trên nền nhà lót thảm. Lẩn quẩn một lúc, ông lết đôi dép qua phòng làm việc, đứng trước tủ sách, cau mày suy nghĩ. Lũ sách vở chen lấn nhau, cố ló mặt ra khỏi cái đám ngay hàng thẳng lối để ông nhìn thấy. Ông đứng lặng thinh. Ông không rút đại một cuốn ra để đọc vài câu rồi nhét vào chỗ cũ như mọi khi. Một lát, ông bỏ ra phòng ăn, ngẩn ngơ nhìn những ngăn tủ. Lũ ly chén lơ láo nhìn ông, như lũ học trò của ông ngày xưa vẫn xếp hàng trước cửa lớp đầu buổi học. Ông không nghe tiếng bọn học trò xì xào nhưng ông nghe ra được tiếng lanh canh của ly chén chạm nhau. Ông đứng bất động. Rồi ông lắc đầu. Lưng khòm. Mắt mỏi. Đầu gối run. Óc rối mù.

Ông lần ra phòng khách, nhìn cuốn lịch trên tường. Những con chữ bò lổm ngổm trên chân dung cô ca sĩ mắt to, môi mọng. Ông nheo mắt nhìn. Quái lạ! Mấy hôm trước cuốn lịch bảo ông sắp Giáng Sinh mà hôm nay – nghĩa là cả tuần lễ sau, ông nhớ loáng thoáng như thế - cũng vẫn chỉ sắp Giáng Sinh. Con số 20 và hàng chữ Tháng Mười Hai lao xao trò chuyện. Như vậy nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa là lễ Giáng Sinh. Thời gian có lướt đi hay đã đọng lại và ngủ quên trên cuốn lịch? Sắp Giáng Sinh rồi. Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng; cực kỳ quan trọng, bởi đó cũng là sinh nhật của vợ ông. Ông gõ ngón tay xương lên vầng trán nhăn như gõ cửa phòng người quản gia canh chừng trí nhớ. Và ông nhớ đã mua quà sinh nhật cùng với quà Giáng Sinh cho vợ, ông nhớ đã giấu thật kỹ để tạo bất ngờ cho bà nhưng tai họa đang chờ ông bởi ông không nhớ mình giấu món quà ấy ở đâu.

Đúng là tai họa.

Người ta gọi ông là ông già từ hồi nào ông cũng không nhớ nữa. Ban đầu ông không mấy tin, bởi ông thấy mình chưa già. Dù những thứ bệnh của người già cứ đeo dính lấy ông như lũ đỉa đói trong đầm lầy nhiệt đới. Huyết áp cao. Mỡ trong máu cao. Tiểu đường. Cườm mắt. Loãng xương. Phong thấp. Nhưng những thứ bệnh vớ vẩn ấy đến từ từ, khiến ông quen dần với chúng nó, và không còn cảm thấy bất ngờ. Có khác chăng là dạo này mọi thứ đồ vật trong nhà đua nhau chọc ghẹo ông, như cặp gối trong phòng ngủ, như lũ sách vở trên kệ, như đám ly tách trong tủ, như cái ti vi dựa vách tường. Đôi khi ông nghe được cả tiếng chúng nó cười khúc khích. 

Thì cứ cho là ông đã già với mắt nhìn kèm nhèm, tai nghe lõng bõng, nhưng ông vẫn tin là mình chưa già mấy. Bởi ông vẫn yêu thương vợ ông, yêu hơn cái thời hai mươi tuổi. Vậy là ông chưa già. Trái tim còn nguyên vẹn. Ông định nghĩa tuổi tác qua cách hành xử của trái tim. Năm nào gần Giáng Sinh ông cũng mua cho vợ vài món quà nho nhỏ, vừa để mừng lễ, vừa để tặng sinh nhật bà. Và ông nghĩ còn yêu thương được là vẫn còn rất trẻ. Điều làm ông bận tâm là dạo này trí nhớ ông hơi loạc choạc. Ông hay quên. Quên nhiều nhất là những chuyện vừa xảy ra. Đơn giản như vừa uống thuốc xong, quay đi quay lại, đã băn khoăn không biết mình đã uống thuốc chưa. Thuốc của ông lại là thứ độc hại, bỏ một ngày là thấy phiền phức ngay. Ngày nào vợ ông cũng phải nhắc ông uống thuốc. Định lục tủ kiếm quyển sách nào đó nhưng bước vào phòng làm việc, ông ngẩn ngơ không biết mình vừa định làm gì. Thật lâu sau mới sực nhớ lại là định đi tìm một cuốn sách. Nhớ được rằng mình đi tìm cuốn sách nhưng lại quên mất tên cuốn sách ban nãy muốn tìm. Cứ loanh quanh lẩn quẩn như thế mà hết ngày.

Và hôm nay cái tật hay quên làm ông cuống lên. Quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của bà ông lén đi mua về rồi ông giấu ở đâu không nhớ nữa. Biết lục ngăn nào trong trí nhớ để tìm bây giờ! Thông thường khi cần tìm cái gì đó mà không thấy thì ông hỏi bà, nhưng chuyện này làm sao mà hỏi được.

Ông đã từng tìm tòi, nghiên cứu sách vở để tìm phương thức chống lại chứng hay quên của mình. Và ông đã tìm ra được cách tốt nhất để chế ngự nó. Ông áp dụng cách ấy. Phương pháp của ông là khi định làm gì thì miệng nhắc liên tục đến việc ấy, cho đến khi làm xong. Như muốn tìm cái áo thì khi đi đến tủ áo, miệng sẽ luôn lẩm bẩm "cái áo, cái áo, cái áo." Khi tìm thấy cái áo rồi thì miệng mới thôi lẩm bẩm.

Mới hồi sáng cái tật chóng quên đã chọc ghẹo ông một cách sỗ sàng. Ấy là thời tuổi trẻ, đôi khi ông cũng có thơ đăng báo. Bây giờ không còn bận tâm với vần với điệu nữa nhưng thỉnh thoảng, bất chợt ông cũng nghĩ ra được một câu nghe như thơ, và ông quyết định lấy bút viết cái câu hay ho ấy xuống. Ông lẩm bẩm "cái bút, cái bút, cái bút" trong khi bước vào phòng làm việc để lấy bút. Nhưng rồi khi tìm được cái bút thì câu thơ trong đầu đã tan biến như vạt sương mù sớm mùa thu trên khóm lá đường phong trước nhà.

Trí nhớ của ông cứ mòn dần, và đầu óc ông nhiều lúc trôi dạt đến tận nơi nào xa lắc. Và bây giờ ông đâm ra hoang mang. Mình giấu quà cho bà ấy ở đâu. Nhà rộng, ngõ ngách lung tung, biết đâu mà tìm. Nhưng mà có khi nào năm nay chưa mua mà trí nhớ mình lẫn lộn với năm ngoái năm xưa nên cứ nghĩ là đã mua quà cho bà ấy rồi không?

Buổi tối, trước khi đi ngủ, ông đi vào phòng làm việc, miệng lẩm bẩm “mắt kính, mắt kính…” và ông loay hoay tìm mắt kính để vào giường thấy đường mà đọc sách. Không tìm ra chỗ giấu quà chắc ông sẽ chẳng thể nào ngủ được, mà không ngủ được thì đành thức đọc sách dỗ giấc chứ biết làm gì khác hơn được. Nhưng vừa bước qua cửa phòng làm việc ông đã quên bẵng đi mình phải làm gì. Vậy là ông cứ đi tới đi lui, lật cái này, đẩy cái kia để tìm và miệng vẫn lẩm nhẩm. Nhưng đầu óc không nối kết được với những chữ mà cái miệng đang lẩm bẩm. Ông không còn biết mình vào phòng để làm gì nữa.
Cứ thế. Tay lục lọi, miệng lép nhép và thỉnh thoảng ông bật lên một cơn ho và đứng sựng lại ngẩn ngơ như người mất trí.
Chờ lâu không thấy ông vào ngủ, vợ ông đi tìm.

Bà thấy ông đứng ngẩn trong phòng làm việc, miệng lẩm bẩm, mắt ngơ ngác nhìn quanh. Bà nghiêng đầu lắng nghe. Bà tập được tính kiên nhẫn từ mấy mươi năm chung sống. Bà biết ông không còn sáng suốt như thời trai trẻ. Bà đã chuẩn bị cho cái ngày hình ảnh bà nhòe đi trong trí nhớ ông, và ông ngập ngừng nhìn bà, nói với bà bằng cái giọng rụt rè quen thuộc, "Xin lỗi, bà là ai; tôi có quen bà không?"

Bà nhìn ông. Giọng ông khàn khàn. Môi ông mấp máy. Như tín đồ tụng kinh. "Mắt kính. Mắt kính. Mắt kính."

“Ông tìm cái gì thế?” Bà hỏi nhỏ. Bà không muốn ông giật mình.

Ông ngẩn người ra, “Tôi cũng không biết nữa.” Ông nói lí nhí như đứa bé bị bắt quả tang làm điều sai trái. Và miệng ông lại lẩm bẩm, “Mắt kính, mắt kính…”

“Nói chuyện với ai mà cứ lải nhải 'mắt kính, mắt kính' thế?” Bà nói.

Như nghe được câu thần chú, ông tỉnh hẳn, “Đúng rồi, bà nhắc tôi mới nhớ, tôi tìm mắt kính. Không có bà chắc tôi chết quá!”

Ông lê từng bước, tới sát bên, choàng tay lên vai bà. Bà đứng lặng. Ông kéo một cánh tay bà, vắt lên vai ông, để có một vòng ôm như những ngày hai người còn trẻ. Tình còn nở hoa. Quên gì thì quên nhưng ông vẫn nhớ những vòng ôm thời tuổi trẻ của hai người. Những vòng ôm ấm áp. Không có bà chắc tôi chết quá. Câu nói của ông làm bà cảm động. Tự dưng bà muốn khóc. Dạo này bà cũng dễ cảm động. Hơi một chút là rơi nước mắt. Thời trẻ đâu có vậy. Nhưng bà cố nén cơn xúc động.

“Tìm mắt kính làm gì?" Bà hỏi, nhìn sâu vào mắt ông. Qua lớp thủy tinh của cặp kính lão ông đeo trên mặt, đôi mắt ông hiền như mắt vị thiền sư. Bà kéo tay ông, “Vào ngủ thôi. Khuya rồi.”

Ông níu tay bà lại, “Nhưng phải tìm mắt kính, không có mắt kính làm sao đọc sách.”

Ấy là thói quen của ông. Vào giường bao giờ cũng phải đọc vài trang sách rồi mới ngủ. Hôm nay lại thêm nỗi hoang mang - không biết đã giấu quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của vợ ở đâu, hay là chưa mua mà cứ yên trí đã mua rồi. Nỗi hoang mang ấy nhằng nhịt như màng nhện dăng đầy trong óc, ông sẽ chẳng cách nào ngủ được.

“Tôi đánh mất mắt kính rồi!” Giọng ông nghe như tiếng thở dài.

“Để tôi tìm cho,” và bà đưa tay, nhẹ nhàng gỡ cặp kính lão ra khỏi mắt ông. "Đang đeo trên mắt mà còn đi tìm đâu nữa!"

Trên khuôn mặt nhăn nheo của ông nở ra một nụ cười ngây ngô. Nụ cười của đứa bé lên ba, lên bốn. Tuy nhiên nỗi băn khoăn vì những món quà thất lạc cứ xoay vòng trong óc ông như cơn lốc.

Ông đã lẫn thật rồi, bà thầm nghĩ, nhưng vẫn còn may mắn bởi ông vẫn còn nhận ra bà, người vợ của hiện tại và người tình của ba mươi mấy năm xưa. Bà níu lấy tay áo ông như thuở mới quen và nói với ông cái câu bà vẫn nói mỗi tối, “Vào ngủ sớm cho khỏe.”

Ngang qua phòng khách bà dừng lại, nhìn màn hình ti vi một lát, rồi vói tay tắt máy và lẩm bẩm, “Giáng Sinh qua cả tuần rồi mà họ vẫn chơi nhạc Giáng Sinh.”   

Ông giật mình, nghiêng đầu hỏi, “Bà nói gì?”

“Tôi nói Noel qua lâu rồi mà Ti Vi vẫn chơi nhạc Giáng Sinh… À mà cuốn sách với cái khăn quàng cổ ông tặng tôi đắt tiền quá, năm tới gom chung quà sinh nhật với quà Giáng Sinh thành một món thôi cho bớt tốn tiền ông à.”

231215

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.