Hôm nay,  

Tại người mua lấy những đa đoan

11/28/202310:18:00(View: 2411)
Truyện

alley-in-saigon



Trần Trọng Tâm sinh trưởng tại thành phố Quy Nhơn. Anh tốt nghiệp Đại học Sư phạm Lý năm 1980 (anh là bạn học của anh rể tôi). Anh được bổ nhiệm vào dạy học ở Bình Chánh. Anh dạy tốt, kiến thức vững, nghệ thuật truyền đạt dễ hiểu. Phụ huynh học sinh rất quý anh! Ngoài giờ dạy anh thường ra uống cà phê ở quán bác Xuyến gần trường. Ở đó bác Xuyến đặt một cái bàn bi da. Cuối tuần rảnh rỗi anh cũng chơi vài ván với bác chủ quán cho vui! Bác Xuyến có vẻ quý Trọng Tâm nên thường cù rủ anh ở lại uống trà, đàm đạo và lúc nào cũng dành cho anh một bao thuốc. Thời bao cấp đồng lương nhà giáo eo hẹp, độc thân vẫn không đủ sống nên khi được người dân quý mến đùm bọc cũng là điều đáng quý. Nhờ vậy nhiều thầy cô giáo đứng vững được trên bục giảng để làm nghề mình chọn, ngắc ngoải cũng qua được giai đoạn khó khăn trong lúc cũng không ít thầy cô ra ngoài lăn lộn kiếm sống mặc dù rất yêu nghề!
    Nhà bác Xuyến có cô con gái là Thu Uyên nhỏ hơn anh 4 tuổi. đang học năm cuối của một trường cao đẳng sư phạm trong thành phố. Cô Thu Uyên cũng quý anh Trọng Tâm. Bác Xuyến cũng tạo điều kiện để anh và Thu Uyên gặp gỡ chuyện trò cùng nhau. Dần dần hai bên tâm đầu ý hợp và quyết định đi tới hôn nhân. Thế rồi chị được bổ nhiệm đi dạy tại một trường THCS gần nhà. Ít lâu sau các con lần lượt ra đời: Một trai, một gái, cách nhau ba tuổi, xinh xắn, bụ bẫm và đáng yêu. Hai vợ chồng chí thú làm ăn, ngoài giờ dạy chị có mở một tiệm sách, báo và văn phòng phẩm, trong vườn cũng trồng rau trái, chăn nuôi gà vịt… Làm ăn, tích cóp anh chị cũng tạo dựng được một căn nhà ấm cúng. Khi bận đi làm thì đem con cái qua nhà ông bà ngoại gửi. Nhà ngoại gần cũng đỡ đần cho anh chị rất nhiều. Có ngoại đùm bọc nên cuộc sống của gia đình anh chị cũng ổn, các cháu ngoan, chăm lo học hành, trưởng thành, ra trường và đi làm.
    Cuộc sống đang yên, đang lành như thế! Đùng một cái anh đi làm về nói với chị là muốn chia tay và đề nghị chị ký vào đơn ly dị. Chị không hiểu gì cả, sau giây phút sững sờ, chị khóc tức tưởi. Rồi hỏi nguyên nhân. Anh nói là anh xin lỗi vì anh không yêu chị! Lúc trẻ anh ngộ nhận tình yêu! Ngày xưa lấy chị là do quý bác Xuyến. Nay sống bên nhau anh không cảm thấy hạnh phúc nên đề nghị giải thoát cho nhau. Anh đưa đơn ra tòa nhưng chị khóc quá nên anh trì hoãn. Mặc dù anh rất muốn nhưng vẫn chưa ly dị được. Sau những tháng ngày, nhạt nhẽo, với những câu nói đôi khi có phần phũ phàng nhưng chị vẫn níu kéo với hi vọng anh hồi tâm chuyển ý. Nhưng không, một năm sau anh vẫn tiếp tục đòi ly hôn cho bằng được. Và anh cũng hé lộ cho chị biết là anh đã tìm được tình yêu đích thực của đời mình để chị buông.
    Hóa ra anh đã có tình nhân là một cô gái trẻ chỉ bằng tuổi con gái anh. Cô làm nghề thợ may công nghiệp. Chị không còn cách nào khác đành ngậm ngùi tức tưởi ký vào đơn ly hôn cho thỏa lòng anh.
    Anh đi xây tổ ấm với cô vợ trẻ, chị Thu Uyên ở nhà với hai con lúc này cũng đã có công ăn việc làm, đứa nào cũng đã có ý trung nhân và chuẩn bị lập gia đình. Thế rồi chị dựng vợ gả chồng cho các con. Ngày cưới con, chị cũng nhắn anh về để dự lễ, để lên sân khấu với chị. Nhưng chị không cầm tay anh sánh vai như những bố mẹ cô dâu, chú rể thường đi lên hôn trường mà mạnh ai nấy đi. Miễn sao điểm dừng là sân khấu nơi có hai ông bà thông gia và hai con của mình là được.
    Rồi các cháu ra riêng, cũng lo làm ăn, xây dựng nhà cửa. Chị về hưu, sống một mình. Thỉnh thoảng các con đưa cháu tới chơi với mẹ. Còn anh cũng đã có hai con (nhỏ tuổi hơn cháu nội ngoại của anh) với cô vợ trẻ. Bố cô vợ trẻ bằng tuổi anh, hay ngồi nói chuyện với anh như hai người bạn.
    Lấy vợ trẻ, thì sung sướng hạnh phúc đâu chẳng biết chứ về chăm con dại là cực hơn chị trong lúc chị tuổi này là có quyền thong dong, cà phê tán gẫu với bạn bè, hoặc đi du lịch đâu đó. Tóc thích thì nhuộm chơi, không thích để vậy cho tự nhiên cũng ok. Rất thoải mái. Nhưng anh thì phải nhuộm, cần làm mọi cách cho trẻ ít ra cũng giảm chênh lệch khi đi bên vợ mới.
    Đùng một cái. Cô vợ trẻ đề nghị anh ly hôn, vì cô cũng đã có nhân tình mới. Anh chàng cùng lứa với cô, trẻ như cô. Mặc anh năn nỉ ỉ ôi, phân tích, trái phải này nọ, cô vợ trẻ vẫn cương quyết ly hôn. Ai khuyên nhủ gì cô cũng mặc kệ, cô không nghe kể cả lời khuyên của gia đình bên ngoại. Cô dứt khoát ra tòa rồi dứt áo ra đi. Cô cùng người tình thuê phòng trọ sống cùng nhau như vợ chồng. Để hai con lại cho anh nuôi. Lúc này một đứa 6 tuổi, một đứa 2 tuổi. Ban đêm con khóc ngằn ngặt đòi mẹ mà lòng anh như dao cắt. Lúc này anh vẫn còn đi dạy, không ai giữ con, anh đem chúng tới trường, cho ngồi chơi ngoài ghế đá sân trường. Cuối tuần mẹ trẻ về thăm con, chở con đi chơi một ngày rồi mang về trả lại cho anh.
    Mẹ vợ anh qua đời, ba cha con về chịu tang nhưng vợ anh không hỏi anh một câu, vẻ mặt dửng dưng lạnh lùng như người không quen biết. Chỉ có ông ngoại và mấy dì của các con thì vẫn quý anh, thương cháu.
    Có lần cô ấy về đón bé đầu đi Mũi Né chơi vài ngày. Trở về nhà bé nói với ba rằng: về khách sạn lúc đầu mẹ ngủ với con. Đến nửa đêm thì mẹ qua ngủ với chú ấy. Anh nghe con kể mà tan nát cõi lòng.
    Anh vẫn “gà trống nuôi con”. Đôi khi anh ngồi ngẫm nghĩ hay tại mình phụ tình nên giờ trời hành, phải trả giá? Có lần anh ghé thăm vợ đầu. Nghe bạn chị kể là chị thỉnh thoảng đi chơi với bạn, bạn gái có, bạn trai có. Đặc biệt có một anh cũng chững chạc thường hay tới sửa mấy việc cho chị như lợp lại mái nhà, sơn lại cửa, kê lại mấy chậu hoa… Anh nghe vậy trong lòng thấy cũng ghen ghen. Mặc dù anh biết ghen là vô lý, vì anh không còn quyền ấy nữa rồi!
    Cuộc sống của anh hết sức vất vả vì hai con còn nhỏ quá, khóc cả ngày, đôi khi đau ốm nữa. Đêm ru con ngủ xong thì anh nằm vắt tay lên trán suy nghĩ. Mới ấy năm mà trông anh có vẻ già đi nhiều, hốc hác hơn so với hồi dứt áo ra đi khỏi nhà người vợ đầu tiên.
    Rồi cũng lại đùng một cái, cô vợ trẻ năm nào mò về xin lỗi anh, xin anh cho nối lại tình xưa. (Không biết do nguyên nhân nào, có khi nào chị ân hận, có thể người tình mới đã chán chị hay chị thấy người này không chiều chuộng chị như anh, v.v.)
Bạn bè cảm cảnh anh nhưng cũng không biết phải khuyên thế nào! Tùy con tim của anh. Nhưng nếu cho cổ về nuôi con, để con anh đỡ khổ, dù sao thì gửi con cho mẹ nó vẫn tốt hơn người ngoài. Hai người nuôi con sẽ tốt hơn một người, mặc dù biết bụng anh còn tức anh ách. Nếu được thì mở lòng chấp nhận cho cổ về lại. Nhưng họ cũng dặn rằng: Luôn cảnh giác vì ngựa có thể quen đường cũ.
    Mấy năm gần đây thấy anh đưa ảnh gia đình gồm vợ chồng anh và hai con lên fb. Anh cười rất tươi bên vợ con. Bạn bè mừng cho anh! Vì ở tuổi anh, mọi người đã vui hưởng tuổi già, bên các con, cháu nội ngoại sum vầy rồi.Trong lúc anh còn phải chăm con dại vừa đa đoan, trần ai khoai củ như thế. Thôi thì cầu cho vợ anh đã biết nhận ra lỗi lầm, chuyên tâm chăm lo con cái để đoạn cuối cuộc đời anh được bình yên!
    Có lúc nào anh ngộ ra rằng: Tại mình mua lấy những đa đoan?
 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.