Hôm nay,  

“Bao Giờ Thì Người Ta Tìm Ra Được Mục Đích Cuộc Sống Của Mình?”

3/23/202111:45:00(View: 4024)

bé bi
Tôi có một cô cháu gái tên T., năm nay 24 tuổi. Hồi bé, T. hồn nhiên lắm, và thích ăn ngon. Ở nhà thường bị mẹ bắt ăn uống “healthy”, mỗi khi sang nhà tôi chơi thì việc đầu tiên T. làm là mở tủ lạnh để tìm các món ăn ngọt và béo. Nhìn T. ăn là thấy ngon rồi!

Rồi gia đình tôi đi Mỹ, chỉ theo dõi tin tức của cháu qua bố mẹ, được biết rằng T. dạo này “người lớn” ra nhiều. T. ra trường cách đây hai năm, được làm cho một công ty lớn,  giữ một vai trò khá quan trọng đối với một cô bé mới ra trường. Làm việc căng thẳng, cháu bị stress cho dù cũng khá thành công trong nhiệm vụ được giao. Cách đây hơn một tuần, T.  viết email cho tôi, cho biết không còn giữ vai trò thử thách trong công ty nữa để có nhiều thì giờ hơn cho bản thân hơn. T. nói rằng qua công việc đầu tiên trong đời, cháu vẫn chưa biết rõ là mình giỏi cái gì và muốn cái gì, nhưng đã thấy được cái mình không giỏi và biết điều mình không muốn. Cuối thư, T. hỏi tôi “Bao giờ thì người ta tìm ra được mục đích  cuộc sống của mình hả chú?”

Câu hỏi này đã lởn vởn trong đầu tôi trong suốt một tuần. Nó làm cho tôi suy nghĩ  nhiều về T., ngẫm lại về bản thân mình, rồi về cả chuyện thời sự của đất nước Việt Nam.

Cách đây hơn 30 năm, cũng ở khoảng độ tuổi của T. hiện nay, tôi cũng đã từng đặt cho mình câu hỏi tượng tự. Mới ra trường còn hăng máu, tôi đặt cho mình nhiều mục tiêu to tát lắm. Nhưng rồi các mục tiêu đó rụng dần, vì tôi không giỏi và may mắn như mình tưởng. Tôi phải tự nhìn lại mình, đặt lại kế hoạch khác cho cuộc sống. Cho đến ngày hôm nay, so sánh lại thì mục đích cuộc sống của tôi bây giờ đã khác thời đó nhiều.


T. còn trẻ mà đã đặt ra câu hỏi này. Điều này hiếm, và lại còn hiếm hơn khi T. ở VIệt Nam. Trong mấy năm qua, người Việt hải ngoại lo âu nhìn về Việt Nam với đủ mọi vấn đề, từ chủ quyền quốc gia, đến thảm họa môi trường, hay các quyền tự do tư tưởng, ngôn luận trước đây đã bị giới hạn nay càng bị bóp chẹt thêm. Trong hoàn cảnh như vậy, báo chí trong nước vẫn đưa tin tuổi trẻ Việt Nam khóc vì sung sướng khi đi đón “sao Hàn”, hay đổ ra đường “đi bão” sau mỗi lần đội tuyển đá banh quốc gia  thắng giải quốc tế. Tôi tự hỏi không biết bao nhiêu bạn trẻ Việt Nam ngày nay có băn khoăn về mục đích của cuộc sống như T.? Có bao nhiêu bạn sống vì mục tiêu của cha mẹ đặt ra cho mình? Có bao nhiêu bạn lấy mục tiêu của đám đông trên mạng xã hội là mục đích cuộc sống của bản thân?


Câu hỏi của T. thực ra là câu hỏi chung của loài người, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Một câu hỏi không có câu trả lời chung cho mọi người, mọi thời gian nơi chốn. Câu trả lời khác nhau cho từng thế hệ. Và không phải ai đặt ra câu hỏi này cho mình cũng tìm được câu trả lời. Tôi có một nhóm bạn thân, là những học sinh xuất sắc của một ngôi trường trung học, đại học hàng đầu của Việt Nam. Hồi trẻ, mỗi đứa có một hoài bão riêng, một hướng đi riêng trong cuộc sống. Có một thằng bạn rất giỏi kinh doanh. Thấy tôi hay đi làm từ thiện, D. đã nói rằng cách làm từ thiện hay nhất là kinh doanh thành công, tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người trong xã hội. Tôi hoàn toàn đồng ý, và rất khâm phục bạn mình, chỉ có điều tôi không đủ tài để làm được như D. đó thôi. Đến ngày nay, nhóm bạn này vẫn giữ liên lạc qua mạng xã hội. Không thấy ai nói đến những ước mơ ngày xưa nữa. Câu chuyện trao đổi hàng ngày thường nhất là chuyện đùa về sex. Thăm hỏi sức khỏe bạn bè, thầy cô. Đề tài về xã hội ít được hưởng ứng. Đề tài về chính trị quốc gia là điều cấm kỵ. Tôi không rõ bạn mình đã tìm ra được câu trả lời cho mục đích cuộc sống hay chưa. Có thể các mục tiêu ngày xưa đã vượt quá tầm với của một số người, trong đó có tôi. Cũng có thể an nhàn lúc tuổi già là mục đích của chúng tôi ở độ tuổi sấp xỉ “sáu bó”…


Cũng trong email, T. kể rằng hiện nay đang đi chơi cùng một nhóm từ thiện nhỏ. Những người bạn mới này không bân rộn với công ăn việc làm lắm, và quan tâm đến những khía cạnh xã hội. T. cảm thấy bình yên khi nghe họ kể về những lần đi dạy trẻ, hay đi vẽ tường, cho nên quyết định tham gia cùng nhóm. Điều này cũng tương tự với những gì đã diễn ra với tôi trong hơn 30 năm trước. Trong tâm trạng hoang mang vì những mục tiêu đầu đời gặp trở ngại, tôi đọc lại cuốn sách Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức của Thầy Nhất Hạnh, trong đó có câu chuyện cổ tích của đại văn hào Lev Tolstoi. Đại ý là một ông vua đi tìm người trả lời ba câu hỏi để trị nước: "thời gian nào là quan trọng nhất, người nào là quan trọng nhất, và công việc nào là quan trọng nhất?". Sau khi hỏi nhiều người, nhà vua đã tìm được câu trả lời ưng ý nhất khi gặp gỡ  một vị đạo sĩ: thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại, người quan trọng nhất là người đang ở gần mình, công việc quan trọng nhất là giúp đỡ người đó. Không ngờ câu chuyện đã cứu tôi ra khỏi nỗi thất vọng. Thay vì buồn vì không làm được những điều mình mong ước, tôi tìm cách giúp đỡ những người chung quanh có hoàn cảnh bất hạnh hơn. Việc làm này giúp tôi thấy rằng mình còn sung sướng, may mắn hơn rất nhiều người mà không hay biết, cho nên cứ tiếp tục bất mãn, buồn khổ. Thêm nữa, khi chia sẻ được niềm vui với người khó khăn mà mình giúp, tôi thấy nguồn hạnh phúc cho cuộc sống trở nên phong phú hơn. Rồi cách nhìn đó theo tôi đến tận ngày hôm nay, khi tôi nghĩ rằng mục đích của cuộc đời là sống sao cho có được một cái tâm bình an, hạnh phúc; và đem được sự bình an, hạnh phúc đến cho những người chung quanh. Suy cho cùng, mục tiêu như vậy cũng không có gì là quá to tát. Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ có khẳng định mọi người sinh ra đều có quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Và tôi cũng nghiệm ra rằng hạnh phúc không đến từ bên ngoài, mà là do cái tâm quyết định.

Có lẽ khi gởi email, T. không nghĩ rằng cháu đã tác động đến tôi rất nhiều. Trong giai đoạn mà những hy vọng của tôi dành cho đất nước Việt Nam từ vài năm qua đã bắt đầu nguội lạnh, suy nghĩ của cô cháu trẻ tuổi đã làm cho tôi thắp lại một chút niềm tin. Trong hàng triệu người trẻ tuổi ở Việt Nam, có nhiều bạn đặt câu hỏi về mục đích của cuộc sống như T. không? Nếu con số đó là không nhiều, thì làm sao để có nhiều người trẻ tuổi hơn suy nghĩ về câu hỏi này? Vẫn biết rằng câu hỏi đó không có câu trả lời chung, và cũng chưa chắc ai cũng tìm được câu trả lời. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng tương lai một dân tộc, một đất nước sẽ khá hơn khi những công dân trẻ tuổi đặt câu hỏi này cho bản thân. Bởi vì những bạn trẻ đã tự vấn như vậy sẽ không để cho cuộc sống quí giá của mình trở nên lãng phí.

Cảm ơn T. vì đã cho chú niềm hy vọng. Chúc cháu sớm tìm ra được mục đích của cuộc sống, một việc mà chỉ có cháu tự tìm ra câu trả lời chính xác cho bản thân mình.

Doãn Hưng

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.